Thu Tứ, “Oai như gái Việt”




Hẳn vốn khác xa, nên mới...
Những chuôi dao găm…
“Cho Ngô biết mặt…”
“Đã mất nhưng đang còn”:
   - Sinh hoạt gia đình
   - Sinh hoạt xã hội
   - Ca dao và thơ X.H.
   - Ðiêu khắc dân gian
   - Sân khấu dân gian
   - Tín ngưỡng dân gian
   - Luật Hồng Ðức
Đến tận thế kỷ hai mươi vẫn…






Hẳn vốn khác xa, nên mới...

Văn hóa Trung Quốc xưa nổi tiếng trọng nam khinh nữ, đẻ con “một trai là có, mười gái là không”! Ðào Duy Anh nhận xét gia tộc chủ nghĩa phương Bắc về địa vị của đàn bà con gái thì luân lý rất là tàn nhẫn.(1)

Văn hóa Việt Nam có tiếp thu văn hóa Trung Quốc, vậy tổ tiên ta cũng xem thường, cũng đối xử khắc nghiệt với phụ nữ chăng? Không đâu. Vẫn Ðào Duy Anh: “(về địa vị của đàn bà con gái) pháp luật và phong tục nước ta (...) thể tất nhân tình hơn”. Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm tìm hiểu văn hóa dân tộc rất công phu, cũng kết luận: người Việt ngay trong thời cực thịnh của Nho giáo vẫn không hề xem thường phụ nữ như người Tàu.(2)

Họ thế, ta tiếp xúc lâu dài với họ mà không... Thế thì hẳn trước khi tiếp xúc, ta đã không khinh nữ chút nào.

Xem lại một số bằng chứng, thấy trong xã hội Việt Nam truyền thống người phụ nữ quả thực có một địa vị rất đặc biệt. Ðàn bà con gái ta từng oai nhất thế giới đấy!

Những chuôi dao găm…

Đã đọc, đã xem ảnh trong sách từ lâu, vậy mà lần đầu tiên đến thăm Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, tận mắt ngắm những chuôi dao găm Ðông Sơn, vẫn không khỏi kinh ngạc. Rõ ràng đó là những tượng phụ nữ…

Đàn ông vẫn có lối ưa thấy hình nữ giới trên vũ khí của mình, chuôi dao găm thế thì có gì là lạ? Lạ chứ, vì “hình” đây không hề lãng mạn hay khêu gợi. Đó là những phụ nữ chống nạnh, mắt trợn tròn xoe, oai phong lẫm liệt. Ngẫm nghĩ, rồi thử gạt ra khỏi óc cái thành kiến chỉ đàn ông mới cầm vũ khí. Biết đâu những chuôi dao độc đáo ấy chính đã nằm trong lòng bàn tay những người giống hệt tượng chuôi!

Lại thử nghĩ về món vũ khí ấy. Nó có tầm đánh rất ngắn, khó bề là trang bị của chiến sĩ, chắc cơ bản đã tượng trưng cho quyền chỉ huy, như khẩu súng lục bây giờ. Tức những phụ nữ Ðông Sơn cầm dao găm không phải những chiến sĩ bình thường, mà là những cấp chỉ huy. Những nữ tướng!

Trong số những dao găm Ðông Sơn đã tìm được, loại dao có chuôi là tượng phụ nữ chiếm đa số.(3) Thế nghĩa là trong văn hóa Ðông Sơn phụ nữ chẳng những có làm tướng mà còn chiếm đa số trong hàng tướng lĩnh?!

“Cho Ngô biết mặt…”

Mấy trăm năm sau Hùng Vương thứ 18, đến thời Hai Bà Trưng, Đông Sơn vẫn còn đông nữ tướng:

“Chỉ mới (...) kiểm kê các di tích lịch sử ở bốn tỉnh lớn đồng bằng Bắc Bộ là Hà Sơn Bình, Hà Nội, Vĩnh Phú, Hà Bắc, ta đã thấy khoảng hai trăm đền được dựng lên từ ngàn xưa để thờ phụng, tưởng nhớ Hai Bà Trưng và các tướng tá, đặc biệt là các nữ tướng (...) Trong đội ngũ phụ nữ đông đảo được suy tôn (...) ấy (...) có những bà mẹ già như Man Thiện, Diệu Tiên, có những người vợ như Bát Nàn, Ðào Kỳ, Lê Thị Hoa, những cô gái như Lê Chân, Thánh Thiên, Thiều Hoa, Xuân Nương, Liễu Giáp, Việt Huy, Ả Di, Ả Tắc, Ả Lã, Nàng Ðê (...) Vẫn hay rằng đó phần nhiều là những tên đẹp (...) sau này gắn cho các vị ấy (...) Vẫn hay rằng ở trong số đó có nhiều vị vốn là những nữ thần nông nghiệp (...) được lịch sử hóa (...) Song chắc chắn vẫn có một cái nền lịch sử”. Hai Bà Vua và các cụ tướng, bà tướng, cô tướng đã chỉ huy kháng chiến xuất sắc đến nỗi “thứ sử Giao Chỉ và các thái thú chỉ còn giữ được thân mình mà thôi”!(4)

Hơn hai trăm năm sau khởi nghĩa Mê Linh, một phụ nữ Đông Sơn khác lại ngồi sừng sững trên bành voi tổng chỉ huy một cuộc khởi nghĩa giành độc lập khác:

“... Vú dài ba thước vắt lưng
Cưỡi voi gióng trống bên rừng trẩy ra
Cũng toan cất gánh sơn hà
Cho Ngô biết mặt đàn bà nước Nam”!(5)

Chắc chắn “Ngô” đã “biết mặt”, vì quân Bà Triệu đánh dữ đến nỗi “thứ sử Giao Châu mất tích”!(6)

“Đã mất nhưng đang còn”(7)

Cả cổ vật lẫn sự kiện lịch sử đều gợi lên một cách tổ chức xã hội trong đó người phụ nữ có địa vị rất cao. Mười tám vua Hùng, biết đâu chẳng có nữ vương…(8)

Sau Bà Triệu, cái cách tổ chức ấy đành chấp nhận giải thể. Vì tối hậu thất bại về quân sự, không đánh đuổi được ngoại xâm, để cho giặc tiếp tục cai trị đất nước, xã hội Đông Sơn truyền thống rút cuộc phải chịu mất cấu trúc đặc thù của nó.

Khung Đông Sơn tan, nhưng chất Đông Sơn vẫn còn rất đậm. “Ðàn bà nước Nam” thôi “cưỡi voi gióng trống” không hề có nghĩa là người Việt biến thành người Tàu. Với đại đa số nhân dân vẫn tiếp tục sống trong các làng quê, xa ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa Tàu, trong đêm dài Bắc thuộc tổ tiên ta âm thầm xây dựng một văn hóa mới, vừa tiếp thu hạn chế văn hóa phương Bắc, vừa tự lực sáng tạo, vừa dai dẳng duy trì một số yếu tố căn bản của nền văn hóa thời Hùng Vương. Trong số những nét Hùng Vương cứ còn mãi, có thái độ đặc biệt nể vì đối với phụ nữ. Thái độ này rất dễ dàng thấy trong vô số biểu hiện văn hóa.

Sinh hoạt gia đình

Về vai trò của người đàn bà trong xã hội Việt Nam truyền thống, ai chẳng biết câu ca dao: “Có con phải khổ về con, có chồng phải gánh giang sơn nhà chồng”. Phạm Quỳnh vắn tắt: “chồng trị vì, vợ cai quản”.(9) Nguyễn Văn Huyên nói ra thật rõ: “Vợ là người chỉ huy việc nhà (...) Hầu như bao giờ vợ cũng giữ tiền bạc, quản lý của cải, giải quyết các khoản chi tiêu, thu lợi tức (...) Người vợ Việt Nam được chồng trân trọng, được con cái kính nể, chiếm một chỗ đứng cao trong gia đình (...) nhiều khi có vai trò gây dựng cơ nghiệp cho gia đình”.(10) Tức “chồng vua vợ tể tướng” là chủ đạo, điển hình; “chồng chúa vợ tôi” chỉ bất quá hiện tượng tiêu cực lẻ tẻ.

Không phải chỉ những chồng nho sĩ chuyên thi rớt như Tú Xương mới trân trọng người vợ “quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi đủ năm con với một… ông Tú”. Nho sĩ cực thành đạt như Nghè Khuyến cũng thấy bà Nghè thật là… vĩ đại: “Giời nào hơn vợ, vợ hơn giời”! Học trò Nguyễn Khuyến học kỹ lời thày Tàu Khổng Tử nên đi thi “cưỡi đầu người kể đã ba phen”, nhưng nên ông Tam Nguyên rồi thì vẫn nhìn vợ mình theo đúng tinh thần Việt xa xưa. Bao nhiêu công phu “xôi, nấu” chữ nghĩa thánh hiền đâu đâu không sao xóa nổi một cái nếp cũ quanh mình!

Sinh hoạt xã hội

Người Tàu xưa chủ trương “nam nữ thụ thụ bất thân” và thi hành chủ trương ấy triệt để tới mức đàn bà con gái gần như không được ra khỏi nhà (để khỏi “thân” với đàn ông). Hồi đầu thế kỷ 20, Nguyễn Bá Trác đi Tàu về kể chuyện: “Người mấy tỉnh về đàng bắc (...) Ðàn bà con gái (...) con nhà thượng lưu ít khi ra đến cửa”.(11) Bình Nguyên Lộc cho biết đến năm 1911 mà bên Tàu việc đi chợ mua đồ ăn vẫn là việc của đàn ông. Thậm chí, đến thập kỷ 1960 ở Chợ Lớn phụ nữ Hoa kiều vẫn chưa được đi chợ!(12)

Ở ta đã không hề có chuyện thế đâu. Phụ nữ Việt xưa không chịu ru rú trong buồng, lẩn quẩn xó bếp, mà đều đều đi chợ, đi hát, đi hội...

Dân ca quan họ rất lâu đời. Hoàng Cầm mắt thấy tai nghe, từng kể lại khá tỉ mỉ sinh hoạt của “người quan họ”.(13) Vũ Ngọc Phan cũng biết rõ sinh hoạt ấy và có lần nhận xét rằng nó “trái hẳn với lễ giáo phong kiến, trái hẳn với cái lối bắt buộc nam nữ thụ thụ bất thân”.(14)

Ði hát như thế đã “thân”, nhưng vẫn chưa thân bằng đi hội. “Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ, trai chưa vợ nhớ hội Chùa Thầy”. Ở hội Chùa Thầy, trai gái vào hang Cắc Cớ chen qua chen lại. Còn ở hội Nga Hoàng (Bắc Ninh) thì đàn ông con trai bị đàn bà con gái ùa đến chen cho kỳ văng xuống ao xuống ruộng mới thôi!(15) Chen vui đáo để, nhưng “vui thời vui vậy, chẳng tầy rã La”. “La” là hội La Khê (Hà Tây), vui đặc biệt, vì đêm rã đám có một lúc tắt hết đèn đuốc để trai gái tha hồ “tình tự”.

Ca dao và thơ Xuân Hương

Phụ nữ Việt Nam dám chen, dám “rã”, dám tranh nhau cướp nõn, dám cầm nường đưa lên cho nõn “tình phộc” ngay giữa miếu (16), sao không dám ca dao tục. Trong Tục ngữ phong dao của Nguyễn Văn Ngọc, có lắm câu lắm bài tục không để đâu cho hết, mà ai biết tác giả không phải những gái quê! Còn thơ Xuân Hương, để ý nó không phải chỉ tục, mà còn rất “ngang”: “Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ, lại đây cho chị dạy làm thơ”, “Này này chị bảo cho mà biết, chốn ấy hang hầm chớ mó tay” v.v. “Hương” không chỉ “chị” với lũ học trò đáng tuổi em, Hương “chị” luôn với anh đồ Chiêu Hổ! Em thì chị dạy, còn anh thì chị “bảo cho mà biết”! Bất kể tác giả thực sự là những ai, cái việc tập hợp thơ ấy được gán cho một phụ nữ chứng tỏ phụ nữ ta hồi thế kỷ 19 không hiếm người có cái phong cách lắm khi “hơn cả bình đẳng” với phái nam!

Điêu khắc dân gian

Ngắm đi ngắm lại những bức chạm ở một số đình làng (17), chợt nghĩ hẳn các tác giả đã sống trong một không gian văn hóa đặc biệt cởi mở thế nào nên mới chạm ra, trổ ra những tác phẩm độc đáo như thế. Chu Quang Trứ kể: “... có hàng loạt cảnh trai gái tình tự và say sưa ân ái (...) Trong các cảnh ân ái, chính cô gái lại chủ động chèo kéo và cũng luôn được chạm ở tỉ lệ lớn hơn người bạn tình…”(18) (hóa ra trước khi vào thơ Xuân Hương, những cảnh sinh hoạt nam nữ đã vào đình từ lúc nào rồi!). Phái nữ “chủ động” và “lớn” trong quan hệ nam nữ, thì ngoài quan hệ cũng có nét mặt và dáng vẻ đầy tự tin. Trong bức chạm Thiếu Nữ Múa ở đình Hưng Lộc (Nam Hà), chẳng hạn, cô gái tay chống nạnh tay giơ cao làm ta vừa xem vừa lờ mờ nghĩ đến cái chuôi tượng người tròn xoe mắt phượng của con dao găm Ðông Sơn. Những “cô tướng” quanh Hai Bà nghìn năm cũ hiện về trên gỗ đình làng đây chăng!

Sân khấu dân gian

Người phụ nữ Việt Nam cũng xuất hiện mạnh dạn khác thường trên sân khấu ca kịch truyền thống. “Nói lẳng (nói lệch) là cách nói của các nhân vật có tính thích bỡn cợt, lẳng lơ, nhiều khi bộc lộ một quan niệm sống phóng khoáng, vượt ra khỏi lễ giáo phong kiến, của người bình dân xưa. Cùng với ánh mắt, những cử chỉ õng ẹo, những động tác di chuyển ngang kết hợp với tư thế lắc hông đầy gợi cảm, nhân vật Thị Mầu (...) đã làm náo loạn cả sân chèo”.(19) “Lễ giáo phong kiến” là lễ giáo gốc Tàu. Người bình dân Việt Nam xưa không chịu để nó “rọ” mình luôn luôn, hễ có dịp là họ vùng ra, là người phụ nữ ta mạnh dạn bộc lộ cái “quan niệm sống phóng khoáng” đặc thù của dân tộc. Thiết tưởng vai Châu Long trong “Lưu Bình, Dương Lễ” cũng có ý nghĩa đáng chú ý. Châu Long thì không “lẳng” tí nào, nhưng cái việc nàng làm chẳng phải là phóng khoáng ngoài sức tưởng tượng của… Khổng Tử sao?)

Tín ngưỡng dân gian

Phan Ngọc nhận xét về Ðạo giáo Việt Nam: “thế giới tâm linh (của tổ tiên ta) do nữ giới cai quản”.(20) Nào Mẹ Trời, Mẹ Rừng, Mẹ Nước, Mẹ Đất, nào Bà Mây, Bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp v.v., toàn Mẹ với Bà thôi, không Bố không Ông (có phải Ông Trời, Ông Trăng về sau mới gọi?). Thực ra các Mẹ còn trị vì nữa, làm vua luôn, vì đâu có ai ngồi ở phía trên! Đến tận hậu bán thế kỷ 20, tại Bắc Ninh - nơi “đất thép thành đồng” của văn hóa Việt cổ - ta vẫn còn gặp Bà Sấm, Cô Mưa trong thơ Hoàng Cầm… Tại sao đàn bà Việt Nam được làm lãnh đạo ở cõi thiêng nhỉ? Cái thiêng bắt nguồn từ cái tục. Dù huy hoàng, chói lọi đến bậc nào, các cõi thiêng hình như bao giờ về cơ bản cũng giống cái cõi tục nơi con người ta đã hình dung ra cõi thiêng. Nghĩa là xưa kia đàn bà Việt Nam được làm “Mẹ” trong thế giới tâm linh, chắc chính bởi họ đang giữ địa vị hết sức cao quý trong thế giới hiện thực. Vài thế kỷ sau khi Bắc thuộc bắt đầu, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, họ bị tụt chức ở trần gian nhưng vẫn cứ tiếp tục ngồi cao chót vót nơi cõi tâm linh…

Luật Hồng Ðức

Cái giá rất cao của phụ nữ trong xã hội Việt Nam truyền thống, nó đã từng được đúc thành luật hẳn hoi. “Luật Hồng Ðức ở thế kỷ XV có một số điều chú ý đến quyền lợi của phụ nữ. Như con gái có quyền hưởng gia tài như con trai, có quyền sở hữu về tài sản; vợ có quyền ly dị chồng nếu chồng bỏ vợ trong năm tháng không đi lại, trường hợp có con, thời hạn ấy tăng lên một năm. Ðó là tập tục cổ truyền còn được giữ lại, và đó cũng là giá trị lớn nhất của luật Hồng Ðức.”(21) Bộ luật nổi tiếng ấy làm vào thời triều đình Việt Nam đang chủ trương ráo riết bắt chước văn hóa Trung Quốc, thế mà nó vẫn giữ lại tập tục cổ truyền liên hệ đến phụ nữ. Ðến vua cũng phải nể, đủ biết cái thế lực của phụ nữ ở ta vốn nó lớn đến chừng nào (các ông chồng “đi lại” biếng nhác bị đuổi như chơi!).

Đến tận thế kỷ hai mươi vẫn…

Trở lại hoàn cảnh “quốc gia hữu sự”. Dĩ nhiên sau Bà Triệu ta có nguyên phi Ỷ Lan cai trị nước thay vua, có các nữ tướng Tây Sơn cưỡi voi xông trận, có Đặng Thị Nhu cùng chồng (là Hoàng Hoa Thám) kháng Pháp…

Đặc biệt, trong cuộc đấu tranh lâu dài và anh dũng của dân tộc Việt Nam vào khoảng giữa thế kỷ 20, phụ nữ đã đóng góp thật nhiều. Có những người để lại tên tuổi như Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Quang Thái, Hoàng Ngân, Mạc Thị Bưởi, Võ Thị Sáu, Phan Thị Ràng, Nguyễn Thị Định, Trần Thị Lý, Trần Thị Kim Cúc v.v. Không biết bao nhiêu người khác mãi mãi khuyết danh.

Đây phác họa chân dung một chiến sĩ du kích thời đánh Pháp:

“Chị tổ trưởng ngồi tiếp chuyện tôi, mới độ mười chín đôi mươi. Chị đẹp như một cô gái Bắc Ninh. Khăn vuông mỏ quạ, yếm trắng bong, áo nâu dài, hai vạt trước lỏng lẻo bắt chéo nhau bên ngoài hai dải thắt lưng xanh, quần nái đen buông đến tận mắt cá chân. Đấy là lúc nghỉ ngơi, không phải lúc đánh giặc, các chị vẫn duyên dáng lắm. Và cũng thùy mị nữa. Khuôn mặt trái xoan rất dịu dàng. Da nhỏ, mơn mởn, trắng hồng. Mắt bồ câu. Miệng nhỏ xinh xinh. Mỗi khi cười, đôi má bầu bầu lúm đồng tiền. Cô con gái nền nếp xứ quê này, mặc dầu cái mộc mạc nâu sồng, cũng khả dĩ làm lắm chàng trai mơ ước. Tôi không biết lúc xông vào trại giặc thì chị có dữ dội, ngổ ngáo không. Lúc này đây, chị cũng khép nép như bất cứ cô thôn nữ đẹp nào ngồi trước mặt đàn ông. Trong khi nói chuyện, đôi mắt chị luôn luôn nhìn xuống, đôi bàn tay trắng mịn đặt trên đùi. Những ngón tay búp măng muồn muột chít vào nhau. Những bàn tay nhỏ nhắn này đã từng cầm súng bắn Tây, ném lựu đạn vào Tây, hoa mã tấu lăn xả vào Tây. Nó vẫn không kém mềm mại chút nào. Trước kia, hẳn là nó đưa thoi rất nhẹ nhàng. Và ẵm em rất khéo”.(22)

Đây hình ảnh đầy ấn tượng của những đội nữ pháo binh thời đánh Mỹ:

“Các em đi
nòng pháo in ráng chiều cháy đỏ (…)
Ôi những em gái quê hương (…)
Từ sâu thẳm đêm đen
một góc trời bừng chớp lửa (…)
Đồn giặc cháy rồi! (…)
Đêm nay lại nghe tiếng pháo gầm vang
phía trời xa lắc (…)
Ôi, có phải gió nổi bốn nghìn năm góp về
một mùa xuân bão táp
đã đưa các em đi
làm ánh chớp giữa trời…”.(23)

Đây nỗi lòng một nữ thanh niên xung phong:

“… Giặc đến nhà gái trai đều ra trận
Em theo anh nối bước dặm Trường Sơn (…)
Phía Trường Sơn chân nối chân bước gấp (…)
Em áo lính cùng anh áo lính (…)
Em ra trận đuổi theo anh phía trước (…)
Em đi sau em nối bước mỗi ngày
Cuốn sổ nhỏ ghi từng dòng nhật ký (…)
Sông đổ sóng quân đi như nước chảy
Bàn chân ướm bàn chân bàng hoàng trang giấy
(…)
Em theo anh xẻ dọc Trường Sơn…”.(24)

Và đây tâm sự một nữ bác sĩ quân y ở tiền tuyến:

“Tôi đứng đây giữa núi rừng lộng gió
Mưa đan dày trùm cả rừng cây (…)
Ai biết chăng dù ta có chết
Cho ngày mai cho đất nước tự do
Thì trong ta vẫn trọn niềm mơ (…)
Đường đi bao nỗi gian nan
Bàn chân lội suối băng ngàn ta đi
Chông gai nào có sá gì
Mắt nhìn vẫn một hướng về ngày mai…”(25).

Trong thế kỷ 20 trên thế giới thiếu gì nơi khói lửa tơi bời. Chẳng ở đâu mà người phụ nữ đóng góp trực tiếp vào nỗ lực quân sự đáng kể gần bằng ở Việt Nam. Gái Việt không phải chỉ oai nhất vào thời xa xưa, mà ngay chỉ mới đây thôi vẫn hãy còn oai nhất!


Viết năm 2008, sửa năm 2014
In trong
Cảm nghĩ miên man (2015)








_________
(1) ÐDA,
Việt Nam văn hóa sử cương, 1938, nxb. TPHCM tái bản năm 1992.
(2) PN,
Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa – Thông Tin, 1998; TNT, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, 2001.
(3) Trần Quốc Vượng,
Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, nxb. Văn Hóa Dân Tộc, 2000.
(4) TQV,
Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1983 (viết chung với Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Lương Ninh).
(5) Lê Ngô Cát và Phạm Ðình Toái,
Ðại Nam quốc sử diễn ca, thế kỷ 19, bản Hoàng Xuân Hãn, thập kỷ 1950.
(6) TQV, xem chú thích 4.
(7) Hà Văn Tấn, trong “Lời cuối sách”,
Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, nxb. Khoa Học Xã Hội, 1994: “Ðông Sơn đã mất nhưng Ðông Sơn đang còn”.
(8) TQV,
VHVN-TTVSN: “Vua Hùng (...) chỉ là nét vẽ muộn màng của (...) thời Lý - Trần - Lê”. Vì người “vẽ” là các nho sĩ, cổ sử Việt mà cứ hao hao giống cổ sử Tàu. Chẳng hạn, hễ vua thì nhất định phải là đàn ông.
(9) Theo TQV trong
Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm.
(10) NVH,
Văn minh Việt Nam, 1944, nguyên tác tiếng Pháp, bản dịch Ðỗ Trọng Quang, nxb. Hội Nhà Văn, 2005.
(11) Trong
Hạn mạn du ký, 1921, in lại trong Du ký Việt Nam, nxb. Trẻ, 2007.
(12) Trong
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Sài Gòn, 1971.
(13) Trong
Hoàng Cầm tác phẩm – Văn xuôi, nxb. Hội Nhà Văn, 2004.
(14) “Mấy ý kiến sơ bộ về dân ca quan họ Bắc Ninh”, trong
Qua những trang văn, nxb. Văn Học, 1976.
(15) Toan Ánh,
Hội hè đình đám, Sài Gòn, 1974.
(16) Dương Đình Minh Sơn,
Văn hóa nõ nường, nxb. Khoa Học Xã Hội, 2008.
(17)
Việt Nam điêu khắc dân gian thế kỷ XVI-XVII-XVIII, nxb. Ngoại Văn, 1975.
(18) CQT,
Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật, nxb. Mỹ Thuật, 2002.
(19) Nguyễn Quốc Văn, “Một đêm chèo nghiêng ngả”, trên trang Mạng không nhớ tên.
(20) PN, Sách đã dẫn.
(21) Trương Chính và Đặng Đức Siêu,
Sổ tay văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa, 1978.
(22)
Nam Cao tác phẩm, tập 2, nxb. Văn Học, 1977.
(23) Nguyễn Chí Hiếu, “Các em đi”.
(24) Lê Thị Mây,
Lửa mùa hong áo, nxb. Quân Đội Nhân Dân, 2003.
(25)
Nhật ký Đặng Thùy Trâm, nxb. Hội Nhà Văn, 2005.