Thu Tứ, “Của thần, của người”




Lịch sử Chăm có trầm có thăng. Ðây những lúc “thăng”:

Thời Bắc thuộc trong lịch sử ta, vua Lâm Ấp từng sai sứ sang Tàu đề nghị thiên triều nhường quyền cai trị Giao Châu lại cho nước mình! Từ địa bàn gốc vùng Ðại Lãnh - Hải Vân, người Chăm từng Bắc tiến ra tận Hoành Sơn, trước sau xâm phạm bờ cõi người Việt bốn mươi ba lần! Mới hồi thế kỷ mười bốn, Chế Bồng Nga còn giết được vua Việt tại trận, “ra vào nước Nam ta như đi vào chỗ không người”, ba lần đốt phá Thăng Long, làm vua cha vua con nhà Trần khiếp hãi bỏ chạy, làm Trần Khát Chân nhận lệnh đi chống giặc mà sợ phát khóc.(1)

Dân tộc Chăm đã trải qua những quãng thời gian đáng vui quá đi chứ.

*

Thế mà nhạc Chăm lúc nào cũng “buồn”!

Các vua đời Lý rất thưởng thức những khúc Chiêm Thành Âm. Ðào Duy Anh cho biết đó là thứ nhạc “nghe phải khóc”.(2) Trần Văn Khê cho biết khi Chiêm Thành còn là Lâm Ấp, Rinyugaku - tức Lâm Ấp nhạc - đã được triều đình Nhật chọn làm một trong ba loại nhã nhạc.(3) Hai nước ở xa nhau lắm, cớ sao vua quan Nhật lại ưu ái, mến mộ nhạc Lâm Ấp đến mức ấy? Căn cứ vào tiếng sáo Nhật truyền thống, hình như dân tộc Nhật đặc biệt chuộng những âm thanh não nùng. Mỗi loại nhã nhạc được chọn vì một lý do. Có phải Rinyugaku trúng tuyển nhờ nghe đúng mức thê lương? Phạm Duy viết: “ngay từ khi dân tộc Chàm còn đang ở trong thời thịnh của quốc gia họ (...) âm nhạc Chàm đã sớm (...) mang tính chất buồn”.(4)

Nước đang thịnh, dân đang vui, mà nhạc lại buồn?! Không thể có chuyện đó. Nhạc Chăm e thực ra không phải là buồn.

*

Nhạc là người. Không hiểu nhạc trực tiếp được, thử cố hiểu nhạc qua người. Người Chăm xưa ra sao?

Theo Lương Ninh, “Ðời sống vật chất (…) rất giản dị (...) Người dân thường thật ít có nhu cầu”.(5) Những người thật ít nhu cầu vật chất ấy, lại theo Phạm Duy, “rất chú trọng đến việc tín ngưỡng. Ðời sống hằng ngày của họ dường như là một cuộc lễ bái không ngừng”.

A, đó là một dân tộc biếng sống mà rất chăm tu! Họ hững hờ với cõi này mà hết sức tha thiết với thế giới bên kia. Họ sống mà như luôn hướng về cái chết! (Tuy họ vẫn tranh sống dữ dằn với người Việt!)

*

Biết người rồi, trông lại nhạc, bắt đầu thấy... ánh sáng.

Vẫn Phạm Duy: “thể nhạc phổ thông nhất trong xã hội Chàm là nhạc lễ”. Hiển nhiên! Ðã “lễ bái không ngừng” thì làm gì còn có nhiều thì giờ dành cho thứ nhạc nào khác ngoài nhạc lễ! Lễ lễ nhạc nhạc lễ lễ liên miên, đến lúc nào đó người Chăm rút ra một quan niệm độc đáo về âm nhạc: họ tin rằng “âm nhạc là của thần thánh”, là những âm thanh truyền xuống từ “chốn thiên đường”.

Nhạc Chăm là nhạc “của thần”! Trách sao khác hẳn những nhạc của người! Nhưng, cụ thể, nó khác ra sao?

Phạm Duy bảo nhạc Chăm buồn, nhưng rồi lại cho biết “nhạc Chàm không thể có hơi Nam giọng ai của nhạc Huế” và “nhạc Chàm thật ra rất gần gũi với loại nhạc oán của miền Nam”. Hình như “ai” thì mới thật là áo não, chứ “oán” tuy sâu nhưng nhẹ thôi. Tức nhạc Chăm tiếng rằng buồn lắm, thực ra không buồn mấy? Thế là nghĩa lý làm sao?

Xuân Diệu có lần mô tả nhạc Chăm là “lạ lùng”, “mê ly”.(6) “Lạ” dễ hiểu, còn “mê ly” tưởng cũng không khó hình dung. Nhạc lễ có tác dụng đưa tín đồ vào một cơn say tôn giáo. Người nghe không phải tín đồ thì không say đạo nhưng rất có thể bị cái nhiệt tình của nhạc thu hút, có thể cũng đâm ra có cảm giác say sưa. Mặt khác, nhạc lễ tất phải nghiêm trang, kính cẩn. Hễ nghiêm quá thì dễ gây buồn. Cho nên mới xảy ra chuyện người nghe ngoại đạo như vua quan Nhật, như vua quan nhà Lý, như Xuân Diệu, nghe nhạc Chăm một lúc, bỗng thấy buồn mê ly?! Nghĩa là giọng oán vốn buồn nhẹ, nhưng do được người Chăm biểu diễn đặc biệt tập trung thế nào đó, đâm ra cũng có thể làm cho người nghe “phải khóc”?

Có phải cái buồn lừng danh của nhạc Chăm xưa chẳng qua là cái trang nghiêm của một thứ âm nhạc tôn giáo chăng?

*

Lịch sử Chăm đầy thăng trầm thì lịch sử Việt Nam cũng không hề toàn “thăng”.

Bắt đầu, là một môi trường tự nhiên đầy thách đố. Trong lời mở sách Việt Nam văn hóa sử cương, Ðào Duy Anh bùi ngùi nhớ lại: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không một mẫu đất nào là không có dấu vết công trình thảm đạm kinh dinh của tổ tiên ta”. Ðất ta ở không phải đất dễ sống. Con người muốn sống phải “khôn”, phải hết sức chịu khó.

Ngoài tự nhiên khắc nghiệt, dân tộc Việt Nam còn phải luôn đối phó với bọn cướp từ phương bắc. Ðánh giặc Tàu, ta có thua có được: khi phải chịu sống trong “đêm dài Trung Cổ” hàng nghìn năm, khi đánh tan được ngay xâm lược Tống, Nguyên, Minh, Thanh.

Ở biên giới phía nam, giữa Ðại Việt và Chiêm Thành trong nhiều trăm năm tình hình quân sự cũng thường xuyên căng thẳng, đánh nhau với người Chăm ta cũng khi thắng khi thua.

Ðã “ngoại chiến” gay go với láng giềng bắc nam, lại thêm nội chiến ác liệt. Nào Trịnh với Nguyễn, nào Nguyễn Tây Sơn với Nguyễn Gia Miêu.

Rồi đến giặc Pháp. Chính sách thực dân hiểm độc làm xã hội Việt Nam nhanh chóng băng hoại và trở nên phân hóa trầm trọng. Muôn vàn khó khăn vất vả đuổi Pháp xong, lại phải khó khăn vất vả hơn nữa mới thống nhất được đất nước bị Mỹ chia cắt...

Nếu so khó so khổ, dân tộc Việt Nam còn phải nhường ai!

*

Thế mà nhạc Việt ít buồn.

Về cổ nhạc, Ðào Duy Anh nhận xét: “Những cung bắc (...) linh hoạt, vui vẻ và mạnh mẽ”. Phạm Duy bảo hát quan họ là “hình thức dân ca phong phú nhất của người Việt”và cho biết nó điển hình “vui tươi, yêu đời, trìu mến”. Có thể nhắc: Bèo Dạt Mây Trôi mà vui gì! Hát ru nhiều bài là nỉ non thân phận, chứ vui gì! Nhưng quả thực nhìn chung thì âm nhạc truyền thống Việt Nam không phản ánh chính xác quá khứ đầy khó khổ của dân tộc.

Về tân nhạc, cũng vậy. Thời tiền chiến, tinh thần là lãng mạn chứ không phải là buồn bã. Thời đánh Pháp, khắp nước nhạc hầu hết có nội dung tích cực. Sau đó, ở Miền Bắc chỉ có loại nhạc tích cực. Ở Miền Nam trong những vùng do chính quyền Sài Gòn kiểm soát, nhạc tuy kém mạnh mẽ nhưng không não nuột thê thiết, ngay đến loại nhạc “muồi” thực ra cũng không.

*

Để hiểu tại sao trong trường hợp nước Việt Nam, đời sống và âm nhạc chệch choạc, phải tìm hiểu con người Việt Nam.

Việt, Chăm cùng là Việt tộc, lại là hàng xóm láng giềng của nhau, nhưng ta và họ nhìn đời không giống nhau đâu. Như đã trình bày, người Chăm sống mà luôn hướng về bên kia cõi sống. Trong khi người Việt, theo Ðào Duy Anh, chỉ quan tâm chuyện “lưu truyền nòi giống và tiếp nối sự nghiệp của tổ tiên”. Phan Ngọc cũng bảo tâm thức Việt Nam cơ bản “hướng về cuộc sống dưới đất, lo khắc phục những khó khăn thực tế (...) để tồn tại, không chứa đựng kiến giải siêu hình nào hết”.(7) Dĩ nhiên, người Việt vẫn có tín ngưỡng, xem chết là “về với ông bà”, nhưng quan trọng hơn nhiều đối với ta là làm sao cho dân tộc trường tồn mạnh mẽ. Ta vẫn sì sụp lễ bái, nhưng trọng tâm của sinh hoạt văn hóa tâm linh Việt Nam là hiện hữu ở ngay trần gian này chứ không phải sự có mặt ở bất cứ một cõi nào khác.

Khác hẳn người Chăm, người Việt chúng ta lo sống chứ không lo chết.

*

Vì dân tộc Việt Nam hướng về cuộc sống, nhạc Việt không phải “của thần” như nhạc Chăm, mà là “của người”.

Hẳn có thắc mắc: thế còn hát văn? Xin để ý các thần linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu của ra rất gần người, “rất quan tâm tới cuộc sống của người dân, tới vận mệnh đất nước”.(8) Hơn nữa, khi cầu xin phù hộ, tín đồ “không hề đòi hỏi một hạnh phúc siêu trần gian ở kiếp sau mà chỉ đưa ra những mong ước trong cuộc sống dưới đất”.(9) Hẳn do cái đặc điểm đạo hướng về đời này mà những âm thanh của một bài hát văn tuy vẫn khá lung linh kỳ dị nhưng không hề có cái tác dụng “nghe phải khóc” của nhạc lễ Chăm. Hát văn là nhạc lễ, nhưng vẫn là nhạc “của người”!

Trở lại câu hỏi: tại sao người Việt chịu khó khổ không biết bao nhiêu, khổ đến mức chết là thường, mà nhạc Việt lại ít buồn?

Nguyễn Đình Thi có lần nghĩ về “sức sống của dân tộc Việt Nam”:

“Tinh thần Việt Nam biểu lộ trong ca dao và cổ tích, không phải một tinh thần buồn bã, yếu hèn, sợ sống, sợ đấu tranh. Trái lại đó là một tinh thần vui vẻ, lạc quan, ham sống, ham vật lộn (...) Tinh thần ấy, mỗi khi bị nén xuống, đều cố tìm đường thoát dậy, mỗi khi gặp một sự thật đau đớn, lại cố tìm một cách chữa cho kỳ được. Nó yêu khỏe khoắn, buồn trung hậu, chứ không đắm đuối, chịu đựng, ủy mị. Nó khác hẳn những tư tưởng chán đời, thoát tục (…) Tinh thần đó (...) giữ vững lửa sống”.(10)

Đấy! Nó đấy! Chính nó là cái giữ cho nhạc Việt không bao giờ trở nên buồn “muốn chết”. Ngay trong những tình huống tệ hại nhất, nhờ lửa sống luôn cháy vững, tuy rất buồn mà lòng người Việt Nam vẫn cứ tươi. Vì ta “buồn tươi”, nên nhạc ta khi buồn cũng buồn tươi!


Viết năm 2003, sửa năm 2015
In lần đầu trong
Tìm tòi và suy nghĩ (2005)
In lần thứ hai trong
Cảm nghĩ miên man (2015)














__________
(1) Theo
Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (in lần đầu năm 1920, nxb. Tân Việt, SG, tái bản năm 1964), Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh (nxb. Thuận Hóa, 1994), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm (nxb. TPHCM, 2001).
(2) ÐDA,
Việt Nam văn hóa sử cương, 1938, nxb. TPHCM tái bản năm 1992.
(3) TVK,
Tiểu phẩm, nxb. Trẻ, 1997.
(4) PD,
Ðặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam, Sài Gòn, thập kỷ 1960 hay 1970.
(5) Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh,
Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, 1983.
(6) Huy Cận,
Hồi ký song đôi, tập I, nxb. Hội Nhà Văn, 2002.
(7) PN,
Bản sắc văn hóa Việt Nam, nxb. Văn Hóa – Thông Tin, 1998.
(8) PN, sđd.
(9) PN, sđd.
(10) NĐT, “Sức sống của dân tộc Việt Nam trong ca dao và cổ tích”, bài nói chuyện đầu năm 1944, in lần đầu trong
Mấy vấn đề văn học, 1958, in lại trong Luận về quốc học, nxb. Đà Nẵng, 1999.