Thu Tứ, “Hia bảy dặm”




Về văn học, ta và Tây vốn phát triển theo hai hướng khác nhau. Trước thời Pháp thuộc văn học ta gồm gần toàn thơ. Thơ ta đã đạt những đỉnh cao mà thơ Tây phương không bao giờ lên tới được. Sau khi Pháp thuộc bắt đầu, văn học ta chẳng bao lâu thêm văn xuôi. Chỉ trong khoảng ba mươi năm, đại khái từ cuối thập kỷ 1900 đến cuối thập kỷ 1930, văn xuôi Việt Nam hoàn chỉnh mô hình thẩm mỹ đầu tiên của nó, đi đến giai đoạn cổ điển của mô hình ấy. Văn xuôi ta xuất phát từ văn biền ngẫu Tàu và văn xuôi Tây, nhưng nó mang những đặc tính không thể nhầm lẫn với văn Tàu văn Tây. Về tính mỹ thuật của lời văn, viết mà như Nguyễn Tuân thì không có nhà văn Tây nào có thể sánh được (chắc chắn cái chỗ hơn người này có gốc nơi thành đạt vô song của dân tộc ta trong nghệ thuật thơ). Cùng lúc, để diễn hiệu quả tâm tình của thế hệ trẻ, thơ Việt Nam hoàn thành tốt đẹp một cuộc cách mạng, chuyển đổi thành công mô hình thẩm mỹ, trở nên ổn định trong cái mới do chính mình sáng tạo, chủ yếu trên nền tảng thi ca truyền thống.

Đại khái cũng trong khoảng thời gian ấy, âm nhạc mới, hội họa mới của ta từ sơ sinh tiến vùn vụt tới mức cổ điển với những tác phẩm của Văn Cao, Đặng Thế Phong, Dương Thiệu Tước, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân v.v.

*

Nhờ đâu mà văn hóa Việt Nam đã “hia bảy dặm” được như vậy?

Nhờ khi mất nước vào tay người Pháp, dân tộc Việt Nam đã sẵn có một nền văn hóa rất cao!

Có thể so bề cao văn hóa của một dân tộc với nội lực của một võ sĩ, so các phương tiện kỹ thuật với vũ khí mà võ sĩ ấy sử dụng. Luyện nội lực đòi hỏi thật nhiều thời gian, chứ học dùng vũ khí thì có mất bao lâu đâu. Văn hóa lại cũng ví như kinh nghiệm nấu nướng của một đầu bếp. Để có nhiều kinh nghiệm, phải thực tập nấu nướng lâu ngày, chứ để biết dùng những dụng cụ nhà bếp thì có cần bao nhiêu thời gian đâu.

Nói thẳng vào chuyện, thì nhờ dân tộc Việt Nam đã làm thơ, làm nhạc, chạm khắc, nặn tượng như một bậc sư rồi, nên khi dùng chữ viết do Tây phát minh, dùng nhạc cụ Tây, ký âm pháp Tây, họa pháp Tây, ta mới hết sức nhanh chóng sáng tạo được Thơ thơ, Lửa thiêng, Vang bóng một thời, Bến xuân, Con thuyền không bến, Đêm tàn bến Ngự, Chiến sĩ vô danh v.v. và rất nhiều họa phẩm đặc biệt giá trị.

*

Dùng kỹ thuật Tây làm văn hóa ta, thế chẳng sướng sao?

Sướng. Nhưng không được lâu.

Việc tiếp xúc với người Tàu, kể cả trong thời Bắc thuộc, đã không làm thay đổi đáng kể môi trường sống của hầu hết người Việt Nam. Nhờ được sống trong môi trường riêng ổn định suốt bao nhiêu thế hệ, văn hóa tinh thần Việt Nam mới có được bản sắc độc đáo. Nhưng việc tiếp xúc với người Tây phương thì khác: cái chỗ ở của ta đang cứ mỗi lúc mỗi trở nên giống cái chỗ ở của họ! Ở đổi đến đâu, văn hóa đổi theo đến đó. Khởi sự, “văn hóa Việt Nam mới” chỉ là một bản sao thô vụng của văn hóa Tây phương, cứ đà này nó sẽ trở nên giống hệt văn hóa Tây phương!

Ðầu thế kỷ 20, dân tộc ta dùng bếp Tây nấu nên những món Việt thật ngon.

Bây giờ, người người Việt Nam đang đua nhau nấu món Tây. Có nấu được ngon bằng Tây chăng nữa, thì mình đã mất cái hồn của mình, “sao con nấu nướng vẫn say sưa?”!(1)

*

Trên vừa nói món Tây “ngon”. Là nói quen miệng thôi. Chứ văn hóa tinh thần Tây phương thực ra đang suy thoái hết sức trầm trọng.

Trước ta mang hia bảy dặm mà vút lên những đỉnh cao mới của văn hóa mình.

Nay ta cũng hia bảy dặm, nhưng đang lao xuống những vực thẳm của văn hóa người!


Viết năm 2003, sửa năm 2015
In lần đầu trong
Tìm tòi và suy nghĩ (2005)
In lần thứ hai trong
Cảm nghĩ miên man (2015)









_________
(1) Câu chót bài “Ngày xuân dặn các con” của Nguyễn Khuyến: “Sao con đàn hát vẫn say sưa?”.