Thu Tứ, “Ấn Á, Ấn Âu”




Vẫn nghe kinh Vệ-đà trong Ấn giáo là của người da trắng Aryan. Nghĩ lại, thấy thật vô lý: người da trắng đã tác giả triết Tây chủ trương thực tại nhị nguyên (Thượng Đế và vạn vật), sao lại có thể cũng đã tác giả luôn triết Đông chủ trương thực tại nhất thể (tất cả là một)?!

Chúng tôi tìm hiểu, thấy lời giải đáp nằm trong một đặc điểm bất ngờ của kinh Vệ-đà. Kinh này bắt đầu thuộc về một tín ngưỡng, do điều kiện lịch sử dần hóa thành kinh của một tín ngưỡng khác!

Cụ thể, ban đầu đó là kinh của đạo Bà-la-môn, một thứ tín ngưỡng hiến tế đa thần của người Aryan. Trong đạo Bà-la-môn không có ý niệm nhất thể. Cách nay khoảng 3500 năm, người Aryan bắt đầu xâm lăng vùng lưu vực sông Indus, lúc ấy thuộc về người Dravidian. Tuy văn minh hơn nhiều, có lẽ văn minh nhất thế giới cổ đại, người Dravidian đã bại trận. Một cuộc hợp chủng (miễn cưỡng, do phía Aryan kỳ thị chủng tộc) và hợp văn hóa khởi sự. Người Aryan thắng, nắm quyền cai trị, nhưng do vừa không tiến bộ bằng vừa ít dân hơn, sau độ 500 năm, đạo Bà-la-môn của họ bị ý niệm nhất thể của người Dravidian xâm nhập, chẳng bao lâu hóa thành Ấn giáo, là tín ngưỡng mới của một giống người lai mới.

*

Tuy trong kinh Vệ-đà không nêu tên tác giả ý niệm nhất thể, ta vẫn có thể đoán chắc được.

Chính các nhà nghiên cứu Tây phương, chẳng hạn Stanley Wolpert, cũng cho rằng thứ triết này khó lòng xuất phát từ phía người Aryan.(1) Nhưng họ chỉ cảm thấy thế, mà không đưa ra được lý lẽ cụ thể nào.

Chúng tôi để ý Ðạo đức kinh cũng bảo thực tại nhất thể: tất cả đều là Đạo biến hóa mà ra. Đạo đức kinh do người Tàu viết thành sách, nhưng nội dung tư tưởng chắc chắn xuất phát từ minh triết của người Việt tộc ở vùng đất về sau là Hoa Nam. Tuy nguồn gốc của người Dravidian vẫn chưa rõ ràng, nhưng rất có vẻ họ là bà con của người Việt tộc, cả hai cùng thuộc vào cái đại chủng từng cư trú trên địa bàn mênh mông gồm toàn cõi Ðông Nam Á cổ (có Hoa Nam) và đất Ấn.(2) Một chủng tộc, một triết lý. Việt tộc là gốc của nhất thể trong tư tưởng Lão Tử, Dravidian là gốc của nhất thể trong Ấn giáo.

Có chỗ này cũng nên nhắc. Trong Ấn giáo, cái ý niệm tương đương với Đạo được gọi là “Bà-la-môn”. Tại sao lại gọi linh hồn vũ trụ, thực tại duy nhất, thực tại cuối cùng, là Bà-la-môn? Thiết nghĩ do từ Bà-la-môn nghĩa ban đầu là giai cấp tu sĩ, vốn có địa vị hết sức cao quý, nên rồi có nghĩa bóng là tột bực, nên khi ý niệm linh hồn vũ trụ ra đời, bèn được gọi là Bà-la-môn!

*

Trong văn hóa của giống người lai là người Ấn-độ, phía tổ tiên Dravidian góp cái triết nhất thể. Còn phía tổ tiên Aryan thì góp những gì?

Trước tiên, là cách tổ chức xã hội . Theo các nhà nghiên cứu, xã hội Dravidian có một đặc điểm kỳ lạ là phát triển cao mà không sinh giai cấp. Thế mà xã hội Ấn-độ lại nổi tiếng kỳ thị giai cấp hết sức nặng nề. Căn cứ vào diễn biến lịch sử và vào sự kiện giai cấp vốn gọi là varna (màu da), có thể đoán kỳ thị giai cấp đây là biến thể của kỳ thị chủng tộc thời người Aryan mới chiếm được đất của người Dravidian.

Thứ hai, là vô số cách suy diễn triết nhất thể. Ở Ấn-độ từng có không biết bao nhiêu luận sư, luận sĩ ngày đêm suy luận về cái bất khả tư nghị! Bà-la-môn hay chân như không thể làm đường mà đi đến được, thế mà họ vẫn cứ hì hục làm! Như thể cái nửa máu Aryan nơi một số người lai đã bắt họ phải suy luận bất chấp.

Cuối cùng, hình như cũng chính dòng máu Aryan đã làm cho linga trở nên khổng lồ. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những vật rất giống linga ở di tích Mohenjo-Daro thuộc văn minh Indus của người Dravidian. Cũng như ý niệm nhất thể, linga rồi đi vào văn hóa tâm linh của giống người lai. Linga Indus kích cỡ bình thường, thiết nghĩ sở dĩ linga Ấn về sau vĩ đại như thế, là do cái óc suy luận cực đoan của phía tổ tiên Aryan của người Ấn đã thần hóa nó.

*

Suy luận triết lý liên miên và thờ linga thật to, không sao cả. Nhưng kỳ thị giai cấp kịch liệt thì căng.

Phật giáo ra đời sau Ấn giáo và về tư tưởng không khác Ấn giáo, cũng lấy triết nhất thể làm cốt lõi. Phật nhập thế là để diệt khổ. Cách “diệt” độc đáo: khuyên mọi người cố ra hẳn khỏi thế giới này, càng nhanh càng tốt. Hẳn đã có điều gì thật bất thường trong xã hội Ấn vào khoảng thời gian ấy!

Ở Trung Quốc, xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc chắc chắn chẳng lý tưởng gì, nên mới sinh bách gia chư tử ngày đêm nghiền ngẫm cách cải tiến. Chín người mười ý, tuy vậy dường như không có ý nào khuyên người Tàu nên tìm cách... lìa đời. Trang bảo “sống cũng là chết, chết cũng là sống”, xong cứ ngao du đến 80 tuổi mới chịu hóa bướm. Khổng suốt đời đâu “viết” về chuyện gì khác ngoài những chuyện quanh quẩn “trong cõi người ta”. Nhân sinh ở Trung Quốc bấy giờ, dù chưa thực hạnh phúc, rõ ràng vẫn đáng thiết tha.

Ở Ấn-độ xưa, tình hình khác. Khi thái tử Tất-đạt-ta bước ra khỏi hoàng cung, hẳn đã thấy chung quanh mình cái giá trị của đông đảo kiếp người nó rất lờ mờ. Phân biệt giai cấp cực đoan. Sinh nhầm giai cấp thì chẳng những suốt đời khổ, mà rồi con cháu chắt chút chít cũng phải chịu y... số khổ. Làm sao bây giờ? Nếu tình trạng xã hội bế tắc là do bị ngoại nhân áp bức, thì chỉ việc đánh đuổi ra là xong. Ðằng này, 1000 năm sau khi giặc Aryan tràn vào, không còn giải pháp chính trị nữa, không còn chuyện giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ của ai nữa, vì giặc bấy giờ đã nhập hẳn vào trong máu huyết của dân rồi! Ðứng trước “khổ hải” quá mênh mông, Phật không nẩy ý hô hào chấn chỉnh xã hội như Khổng Tử bên Tàu, mà chọn giải pháp tối hậu là giúp “chúng” vĩnh viễn thoát ly “sinh”.

Phật nhập diệt đến nay được hai mươi lăm thế kỷ. Nghe nói bên Ấn-độ, kỳ thị giai cấp không phải đã biến mất mà chỉ mang những hình thức mới.


Viết năm 2004, sửa năm 2015
In lần đầu trong
Tìm tòi và suy nghĩ (2005)
In lần thứ hai trong
Cảm nghĩ miên man (2015)








________
(1) Stanley Wolpert,
A New History of India, Oxford University Press, 2004.
(2) Trong
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam (Sài Gòn, 1971), Bình Nguyên Lộc khẳng định người Dravidian cũng thuộc vào chủng Mã Lai.