Thu Tứ, “Trời Đông, trời Tây”




Con người ta khắp nơi vẫn có cái lối hễ động xẩy ra chuyện gì quanh mình là ngoác miệng kêu réo tận cao xa. Ta “Trời ơi!”, Tây thì chẳng hạn “Oh my God!”.

Cùng ở tít trên ấy, nhưng Trời Đông, Trời Tây chẳng hề giống nhau đâu.

*

Ở phương Ðông, phận Trời khi cao khi thấp.

Nói chung, ta thường tỏ ý kính trọng Trời, trông mong sự giúp đỡ: “Xin Trời chứng giám cho lòng con...”, “Cầu Trời phù hộ cho chúng con...”, “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày...” v.v. Khi được hả dạ, ta mau mắn ca ngợi: “Trời có mắt”.

Tuy nhiên, lòng kính trọng ấy khá tương đối, vì “Nhất vợ nhì Trời”. Thậm chí nó dễ dàng tạm nhường chỗ cho lòng bất kính. Hễ có điều hồ nghi, bất kể điều gì, ta vô tư “Bắc thang lên hỏi ông Trời, những tiền cho gái có đòi được không?” Gặp chuyện trái ý, hoặc ta chê vắn tắt: “Trời không có mắt”, hoặc ta phàn nàn: “Trời sao Trời ở chẳng công, người ba bốn vợ người không vợ nào”, hoặc ta oán trách: “Trời sinh ra kiếp hay chơi, sao Trời lại ghép vào nơi không tiền”. Nếu phẫn uất cực điểm, ta có thể vác ghế ra giữa sân, ngồi réo đích danh giặc Trời già (lão tặc Thiên) ra mà mắng mỏ om sòm. Kẻ bạo mồm còn lớn tiếng đòi ăn gan Trời mới chịu nguôi!

Cả giới trí thức cũng không hề kiêng chỉ trích Trời. Giữa tiếng khóc cũ của Thúy Kiều và tiếng khóc mới của Nguyễn Du, biết bao là “nhời nhỏ to” về những “thói” ngộ nghĩnh của “Trời xanh”: nào ghen tài kẻ nọ ghen sắc kẻ kia, nào phũ phàng, nào lừa lọc, nào nỡ lòng (hại), nào làm cực, nào xoay vần như chong chóng v.v. Trong tiêu phòng lạnh lẽo, người cung phi số đen của Nguyễn Gia Thiều lúc thắc mắc: “Tay tạo hóa cớ sao mà độc?”, lúc chán nản: “Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán”, lúc buông xuôi: “Thử xem con tạo gieo mình nơi nao”. Nơi “buồng cũ chiếu chăn”, người chinh phụ vò võ của Ðặng Trần Côn chất vấn “Xanh kia”: “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”, xong phàn nàn: “Trách Trời sao để nhỡ nhàng”. Công chúa Ngọc Hân khi “ai tư vãn”, cũng vẫn y một điệp khúc: “Cõi thọ sao hẹp bấy hóa công?”, “Ngán thay, máy tạo bất bằng!”. Ðể ý giới trí thức khi bất bằng có thể hạ tuổi của Trời: trẻ tạo, hóa nhi!

Ta ăn nói với Trời lúc trọng vọng lúc xem nhẹ, lúc thậm chí sỗ sàng. Ta cư xử với Trời cũng thủy chung bất nhất: lúc cung kính thờ ông Thiên, lúc để họ hàng vác thiết bảng “đại náo thiên cung”, đuổi Ngọc Hoàng chạy có cờ, bắt phải phong ngang chức! Tản Ðà “tình riêng trăm ngẩn mười ngơ”, lấy giấy viết thơ hỏi xin làm rể Trời. Tú Xương, “lúc túng toan lên bán cả Trời” (không rõ có định mời Thiên Lôi chăng?)! Ngay những nho sĩ không ngông tí nào khi quan hệ với “khuôn xanh” tuy thường nhận thua, vậy mà thỉnh thoảng cũng dám đòi thắng: “Nhân định thắng thiên”.

*

Ăn nói hồ đồ, hành động hỗn độn, cả nói và làm đôi khi hỗn láo. Thử tìm hiểu xem tại sao người Ðông phương dám thế với Trời.

Ở Trung Quốc, theo Kinh Dịch, Trời Ðất “giao cảm” mà sinh ra vạn vật.(1) Vạn vật có loài người, vậy tất cả đều là con Trời (tuy về sau xẩy ra chuyện có những đứa con tự xưng chỉ nó mới là “thiên tử”). Ở Nhật, ông bà Trời (vốn là anh em) Izanagi và Izanami giao cảm mà sinh ra vô số đảo lớn đảo bé và vô số thần lớn thần bé. Hẳn toàn dân Nhật cũng đều dòng dõi nhà Trời vì đến đảo còn từ bụng Trời chui ra, nói chi con người!(2) Ở Hàn, con Trời (Hwanin) là Hwanung xuống trần, hóa phép thành người. Hwanung giúp một con gấu cái biến thành một người đàn bà, xong giao cảm với người ấy mà đẻ ra Tan-gun. Tan-gun làm vua, năm -2333 đặt tên nước là Triều Tiên, đóng đô ở Bình Nhưỡng, rồi trị vì suốt 1500 năm!(3) Ở Ấn-độ, theo Ấn giáo vũ trụ chỉ là kết quả của lila, một thứ trò chơi ngộ nghĩnh trong ấy thánh thần biến hóa ra vạn vật rồi biến trở lại thành thánh thần rồi hóa trở lại thành vạn vật, cứ thế liên miên không dứt.(4) Ba mươi triệu vị thần chung quy đều là hiện thân của linh hồn vũ trụ (Brahman), mà một tỉ linh hồn nhỏ (Atman) đang cư ngụ trong thân xác của một tỉ người Ấn cũng vẫn chỉ là một với linh hồn vũ trụ.

Người Việt Nam là con Rồng cháu Tiên, tức cũng gốc gác tận… thiên đình. Nói gì người, ở ta đến con cóc còn gọi Trời bằng cháu!

À, thì ra vì có quan hệ máu mủ, thậm chí “là một” với Trời, mà ta dám lộng ngôn lộng hành.

*

Do có họ với người, Trời Đông không hề toàn năng, toàn hảo.

Làm thợ (hóa công) lắm khi vụng về: “Mà cô mệnh bạc, thợ trời cũng thua”.(5) Tay nghề chưa cứng, nghề chưa lành, nặn một số phận còn lúng túng mà lại thích vung múa to tát, “làm” trận nọ “gây” cuộc kia ảnh hưởng đến bao nhiêu nhân mạng: “Trời làm một trận lăng nhăng, ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông”, “Tạo hóa gây chi cuộc hí trường, khiến người qua đó chạnh lòng thương”, “Trải qua một cuộc bể dâu, những điều trông thấy mà đau đớn lòng” v.v. Thợ Trời vụng về khiến lời Nguyễn tiếng Kiều inh ỏi trần gian!

Được cái Trời dễ mủi lòng, nên lắm người nhờ được Trời thương mà tai qua nạn khỏi, ăn nên làm ra. Lòng Trời đã mềm, lại rộng: nghe lời rao bán lếu láo của Tú Xương chỉ “cười thằng bé nó hay chơi”, mà xem đến tâm sự táo bạo của “Tản Ðà tiểu tử” cũng chỉ “bượch” cười cho kẻ “dám suồng sã đưa thơ”. Nhưng vì cùng giống với người, Trời cũng khi mưa khi nắng, khi sốt sắng khi dửng dưng, xem vạn vật như chó rơm.(6)

*

Ở phương Tây, Trời khác lắm.

Cổ thư Hi-lạp chép về tín ngưỡng thời xưa ở vùng Bắc Ðịa Trung Hải: “Có một loài người, có một loài thần...”.(7) Vậy từ sớm, bên Tây phương đã nẩy ý niệm phân biệt hẳn thần với người. Thần là thần, thần không phải là người tu hành đắc đạo. Loài thần cư ngụ trên đỉnh Olympus; Zeus là thủ lĩnh. Có điều này cũng ngộ: tuy hoàn toàn khác giống nhưng các thần Hi-lạp ban đầu có “giao cảm” với người, làm sinh ra một loài lai, nửa thần nửa người!

Nhiều trăm năm sau, khi các vua La-mã rút cuộc chịu theo đạo Ki-tô, nơi thần điện Tây phương các thần trong tín ngưỡng Hi - La truyền thống biến mất hết, nhường chỗ cho Thượng Đế của Do-thái giáo. Đấng Tối Cao vĩnh cửu, toàn hảo, toàn năng. Đấng Tối Cao làm ra vạn vật. Tuyệt đối không thể xẩy ra chuyện đi lại, giao cảm linh tinh.

Trời Tây không có dây mơ rễ má gì với người.

*

Trời và Trời ra đời như thế nào nhỉ?

Có thể nghĩ ở phương Đông cũng như bên phương Tây, môi trường tự nhiên và diễn biến văn hóa khiến trong dân gian dần dần nẩy sinh một tâm thức đặc thù về những vấn đề siêu hình. Tâm thức dân gian chỉ mơ hồ thôi. Nhưng đến một lúc nào đó, nó bỗng đọng lại thành triết rõ ràng trong lời các thánh nhân.

Ở phương Đông, những truyền thuyết kỳ dị về quan hệ máu mủ giữa Trời và người rồi đọng lại thành triết nhất thể: “Tất cả là một”.

Ở phương Tây, những truyền thuyết cũng kỳ dị không kém về sự phân biệt nguyên thủy giữa thần linh và loài người rồi đọng lại thành triết nhị nguyên: Thượng Đế làm ra vạn vật.

*

Mỗi môi trường tự nhiên và diễn biến văn hóa chỉ sinh được đúng một triết lý.

Phía Tây, cùng sống quanh quẩn trong ngoài cái nôi của văn minh Tây phương, vậy mà tín đồ Do-thái giáo, Ki-tô giáo và Hồi giáo lắm lúc mâu thuẫn trầm trọng, xung đột chí tử. Về giáo lý, đạo này đạo nọ đạo kia cách nhau hàng mấy chục trời chăng? Không phải đâu. Cơ bản, những kẻ thề không đội... trời chung với nhau ấy chỉ bất đồng về chỗ Sứ giả, chứ vẫn thờ chính xác y một Thượng Ðế!

Phía Ðông, tình hình thoạt nhìn khó hiểu. Ở Trung Quốc có thánh Lão và thánh Khổng, cùng xứ sở, vậy mà thánh này dạy “vô vi”, thánh kia bảo “vi quân tử”! Trong khi giữa Trung Quốc và Ấn-độ đường sá xa xôi cách trở mà Phật với Lão lại “nhất trí” rằng vạn vật nhất thể, vạn sự vô thường!

Về nghịch lý Lão - Khổng, chìa khóa mở bí mật nằm trong mấy chữ “cùng xứ sở” vừa tạm dùng trên. Không hẳn là cùng đâu. Lão sinh ở Hoa Nam, Khổng sinh ở Hoa Bắc. Ngay trong cái khung thời gian hai “Tử” chào đời, hai Hoa cũng chỉ mới là một về chính trị, chứ về văn hóa chắc chắn vẫn gần nguyên hai. Nói gì thời trước đó, thời ở mỗi nơi cư dân đang phát triển một tâm thức hoàn toàn riêng. Dân phương Nam khác dân phương Bắc. Do đó triết Nam khác triết Bắc (thực ra chỉ triết Nam mới có nội dung siêu hình, chứ triết Bắc thì coi như thuần túy nhân sinh mà thôi).

Về chuyện Phật, Lão “thiên lý năng tương ngộ”, theo một số nhà nghiên cứu, người Dravidian ở Ấn-độ và người Việt tộc ở Hoa Nam vốn cùng là giống Cổ Mã Lai. Dân cùng giống, triết cùng dòng, đâu có gì lạ.(8)

*

Đầu thế kỷ 21. Cả Trời Đông lẫn Trời Tây coi như chết rồi! Chỉ còn lại những tàn tích của hai truyền thống văn hóa tâm linh. Chuyện gì đã xẩy ra vậy?

Khoa học đấy. Sau chỉ có mấy thế kỷ, khoa học đã giành được vị trí độc tôn trong văn hóa tinh thần của cả nhân loại. Không ai còn thắc mắc siêu hình gì nữa. Trời ư? Đó chỉ là cái luật tự nhiên cao nhất mà nếu cứ tiếp tục nghiên cứu bằng phương pháp khoa học, ta sẽ có ngày khám phá được.

Trước kia bay bằng trí tưởng tượng, ta đã thấy Trời. Bây giờ bay thật trong phi thuyền, ta lại chỉ thấy luật!

Cái con khỉ tưởng nó bằng Trời khi “cân đẩu vân” cũng đắc ý lắm. Coi chừng thuyền vũ trụ đang bay tới năm cái cột chống trời giả! Coi chừng bay chưa tới thì thuyền đã nổ tung hay người trong thuyền đã hóa quái vật hóa máy móc mất rồi!


Viết năm 2004, sửa năm 2015
In lần đầu trong
Tìm tòi và suy nghĩ (2005)
In lần thứ hai trong
Cảm nghĩ miên man (2015)







________
(1) Nguyễn Hiến Lê,
Kinh Dịch: đạo của người quân tử, nxb. Văn Nghệ, Mỹ, 1991.
(2)
Merriam-Webster’s Collegiate Encyclopedia, Mỹ, 2000.
(3) M. Breen,
The Koreans, nxb. Thomas Dunne Books, Mỹ, 2004.
(4) Fritjof Capra,
The Tao of Physics, nxb. Flamingo, Mỹ, 1982.
(5) Bài “Tế Chiêu Quân” của Nễ Xuyên.
(6)
Ðạo đức kinh.
(7) Charles Freeman,
Egypt, Greece and Rome: Civilizations of the Ancient Mediterranean, nxb. Oxford University Press, 2004.
(8) Xem bài “Ấn Á, Ấn Âu” của TT.