Thu Tứ, “Hai cuộc bể dâu”




Cơ thể con người ta trời sinh cần chất đạm. Ðối với người Việt Nam, thịt bò là một nguồn đạm tương đối mới.(1) Liệu cái sự việc ta đang gia tốc tiêu thụ thứ đạm mới có ý nghĩa lịch sử gì đáng chú ý chăng?

Cái ăn rất “gốc”

“Vẻ chi ăn uống sự thường”, mà phí thì giờ đi săm soi thịt kia thịt nọ.

Ấy, từng miếng ăn miếng uống thì tầm thường thật (ngoại trừ miếng ngon, nhưng đó là chuyện khác). Chứ từng cái thịt thì xin ai chớ lấy làm thường!

“Cái ăn cái uống là gốc con người” còn hơn cả cái tóc cái răng đấy. Cả một dân tộc mà bắt đầu chịu ăn một thứ thịt mới thì “sự” là rất “không thường” đấy!

Sử thịt, sử người

Nói nguồn đạm chính trong thực đơn truyền thống là cá thì bây giờ nghe khác nào “mặt trời mọc ở phương đông”. Ấy vậy mà mặt trời vốn không mọc ở phương đông, người Việt Nam xưa kia vốn không ăn nhiều cá mà chủ yếu ăn cua ăn ốc!

Xưa đây không phải là như trong truyện ngắn truyện dài của các tác giả Tự Lực Văn Ðoàn, của Tô Hoài, Nam Cao, Nguyên Hồng v.v. đâu. Hồi đó tuy dân ta có mò cua bắt ốc, có ăn bún riêu bún ốc (bây giờ vẫn ăn) nhưng nguồn đạm chính đã là các loại cá từ lâu lắm rồi.

Nói xưa đây là nói từ khoảng mười mấy ngàn năm trước cho tới khoảng năm, sáu ngàn năm trước, tức đại khái là cái khung thời gian tồn tại của văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn. Theo Chử Văn Tần, “cua ốc (...) là nguồn thức ăn (...) chủ yếu (...) của người Hòa Bình”.(2) Theo Lê Xuân Diệm, đến thời văn hóa Bắc Sơn “việc mò cua, bắt ốc (...) vẫn (...) là hoạt động đem lại nguồn thực phẩm quan trọng. Tàn tích của loài động vật nhuyễn thể (...) tràn ngập (...) các di tích cư trú”.(3)

Người Hòa Bình, người Bắc Sơn thường được xem là một nhóm tổ tiên quan trọng của dân tộc Việt Nam. Họ ăn rất nhiều cua ốc, đó hẳn không phải là do sở thích. Mà bởi họ ở trên núi, cá đâu mà bắt về ăn cho đủ. Hơn nữa, để bắt cá cho có hiệu quả cao, cần dùng đến những dụng cụ còn chờ tiến bộ kỹ thuật lớn để ra đời.

Phải tới một lúc nào đó trong khoảng thời gian chuyển biến từ văn hóa Phùng Nguyên (bắt đầu cách nay khoảng 4000 năm) qua văn hóa Ðông Sơn (bắt đầu cách nay khoảng 2700 năm) thì cái nguồn đạm chính của tổ tiên người Việt mới từ cua ốc trở thành cá. Thực đơn đổi là do “nhà” rút cuộc đã “dọn” đến một chỗ có địa hình khác. Người Phùng Nguyên sinh sống ở trung du, nơi cá cũng không thực là nhiều, nhưng đến thời Ðông Sơn thì đại bộ phận tổ tiên ta đã xuống cư trú tại những vùng đất thấp và trũng mới xuất hiện hai bên sông Hồng, nơi đầy ao hồ và và do đó có vô số cá. Ngẫu nhiên, đúng vào lúc đó, ta bước vào thời đại đồ đồng, nhanh chóng phát minh, chế tạo ra những dụng cụ bắt cá khá tốt. Đồ bắt cá đa số làm bằng tre cơ mà? Nhưng xử lý tre mà có dao kim loại thì dễ hơn nhiều.

Từ Hòa Bình, Bắc Sơn đến Phùng Nguyên đến Ðông Sơn là cả một cuộc thay đổi địa bàn sinh tụ liên tục theo hướng từ cao xuống thấp, từ chỗ ít nước tới chỗ nhiều nước. Con ốc núi con cua núi từ từ bò ra khỏi thực đơn, con cá từ từ bơi vào, chỉ sau thời gian dằng dặc cái bò ra cái bơi vào mới chấm dứt, các loại cá mới thực sự làm chủ tình hình trên mâm cơm Việt Nam (“chủ” chính thôi, không phải duy nhất, vì ta còn ăn không ít cua đồng ốc ruộng ốc ao).

Ðó, cái miếng “thịt” bỏ vào miệng hàng ngày, “tiểu sử” của nó gắn liền với “đại sử” của cả dân tộc chứ đâu có phải chuyện vừa.

Hai cuộc bể dâu

Nhưng chuyện cua non ốc núi bị cá lấn trên mâm thì dính líu thế nào đến chuyện ta nay đang ăn thêm thịt bò?

Chả có dính líu gì. Ngoại trừ trong cái ý nghĩa cùng là một tấm gương ta có thể nhìn vào mà thấy được cuộc bể dâu trong đời sống dân tộc.

Diễn biến cá thay cua ốc núi phản ánh cuộc bể dâu từ các văn hóa cổ miền núi - chân núi qua văn hóa Ðông Sơn ở châu thổ sông Hồng.

Diễn biến lên đời của thịt bò - trong đó sự phát triển rực rỡ của phở chỉ là một ví dụ - trong tầm ngắn phản ánh cuộc xâm lăng của đế quốc Pháp, trong tầm dài hơn phản ánh tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, còn tối hậu sẽ phản ánh cuộc bể dâu từ một nền văn hóa nông thôn rất lâu đời và có bản sắc độc đáo qua một nền văn hóa đô thị chưa biết sẽ có được bản sắc hay không.

Ý nghĩa, ý nghĩa

Bể dâu hai lượt...

Lượt trước, người Việt Nam đổi qua ăn nhiều đạm cá rồi làm làng có lũy tre bao quanh mà ở. So với trước đó, văn hóa của tổ tiên ta tuy khác đi nhưng không hề giống của ai.

Lượt này, ta ăn thêm đạm... Tây (người Tây phương từ xưa ăn nhiều thịt bò) rồi bỗng tỉnh ta vừa vùn vụt hóa tỉnh Tây (4) vừa trở nên hung hăng như “Bò Húc”, ngày đêm bành trướng nuốt chửng quê ta (bành trướng vốn là đặc tính cơ bản của Tây!). Khắp mọi nơi trên đất nước quê hương, cái Tỉnh Tây nó đang ráo riết đẩy cái Quê Việt vào quá khứ.

Giữa bể dâu xưa với bể dâu ta đang “trải qua” còn có chỗ khác nhau này nữa.

Xưa, ta đang ở trên núi, trên đồi, nhìn xuống thấy biển rút để lộ ra đất tương đối dễ kiếm miếng ăn hơn, bèn dần dà tự ý di cư xuống ở.

Nay, bỗng đâu có kẻ mang súng ống tàu bè qua bắt ta cứ ở y nguyên chỗ cũ nhưng phải hỏa tốc “dọn” qua một thời đại mới!

Vừa mừng, vừa lo

Người Việt Nam bây giờ có thêm một thứ thịt nữa để ăn. Người Việt Nam bây giờ đang trên đà thoát ly cái đời trồng lúa vất vả nắng bỏng lưng rét thấu xương để biến thành công nhân mát lưng ấm xương. Mừng và mừng cho ta. Nhưng vừa mừng lại vừa lo.


Viết năm 2008
Sửa tháng 5-2017
In trong sách
Cảm nghĩ miên man, q. II, 2017





___________
(1) Xem “Con thịt thứ tư” trong
Cảm nghĩ miên man (2015, TT).
(2) Chử Văn Tần,
Văn hóa Ðông Sơn - Văn minh Việt cổ, nxb. Khoa Học Xã Hội, 2003.