Thu Tứ, “Tổng quan về văn hóa”




Có lẽ khởi đầu loài người đại khái cũng như muôn loài. Nghĩa là chỉ ăn, uống, ngủ v.v. và không cảm nghĩ gì cả.(1)

Lúc nào đó, bỗng nhiên ta bắt đầu biết cảm nghĩ. Văn hóa là biết cảm nghĩ.

Văn hóa phân biệt ta với muôn loài. Có thể nói sau khi bắt đầu văn hóa ta mới thật là người.

Cảm nghĩ có nhiều hướng phát triển. Do ở mỗi nơi loài người phát triển theo một hướng mà văn hóa mỗi khác. Văn hóa thành ra một cái có thể dùng để phân biệt nhóm người này với nhóm người kia.

*

Biết cảm nghĩ khiến con người ta dần dần sinh hoạt khác hẳn trước, bắt đầu làm những chuyện trước không hề làm.

Như tự chế ra những vật mới, chưa từng có trong môi trường sống.

Như sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật, băn khoăn triết lý, thắc mắc về tự nhiên.

Do cá nhân trở nên phức tạp, tập thể cũng trở nên phức tạp về tổ chức, rồi tổ chức tập thể phức tạp lại làm cho cá nhân có những sinh hoạt mới trong tư cách thành viên...

Từ “rỗng” và trơ trụi, loài người dần thấy lòng óc mình đầy ắp cảm nghĩ và xung quanh mình ngổn ngang vật do mình chế tạo!

Sinh hoạt mới - sinh hoạt văn hóa - làm nẩy sinh vô số sản phẩm.

*

Có thể chia sản phẩm văn hóa làm bốn loại.

Loại văn hóa phẩm đầu tiên chính là cảm nghĩ! Cảm nghĩ hoàn toàn trừu tượng, nhưng là cái gốc của mọi văn hóa phẩm khác.

Loại văn hóa phẩm thứ hai là “văn vật”, tức những vật do loài người tạo ra. Trước khi ta biết cảm nghĩ, tất cả mọi thứ xung quanh đều là sản phẩm của tự nhiên. Bây giờ nhìn quanh càng ngày ta càng thấy nhiều thêm những sản phẩm của chính mình: từ vật bé như cái tăm đến vật lớn như Kim Tự Tháp, Vạn Lý Trường Thành, từ vật đơn giản như... cái tăm đến vật phức tạp như máy vi tính, lò điện nguyên tử.

Loại văn hóa phẩm thứ ba là “văn vi”. Biết cảm nghĩ được một thời gian, ta thấy mình có những hành động mới. Mài đá, bổ củi, trồng khoai, trồng lúa, buôn bán, cúng vái, đi xem hội, ngồi thiền, dạy dân, nghiên cứu khoa học, làm việc từ thiện, làm thơ, vẽ tranh, chẳng hạn, là văn vi. Mọi “vật” đều là kết quả của “vi”, nhưng không phải vi nào cũng để lại vật: chẻ tăm thì có tăm, còn ngồi thiền hay đi xem hội thì không sinh ra vật gì cả.

Loại văn hóa phẩm thứ tư là “văn cách”. Biết cảm nghĩ được một thời gian, ta thấy mặt mũi, điệu bộ, cử chỉ, dáng đi dáng đứng dáng ngồi v.v. của mình trở nên khác trước. Văn cách là thứ cảm nghĩ hiện ra thành dáng vẻ.

Không phải hễ cứ cảm nghĩ phát sinh thì rồi nhất định sẽ có văn vật, văn vi, văn cách ra đời. Nếu ta có cảm nghĩ mà không chịu làm ra thành một vật gì (kể cả một lời nói), không chịu hành động, cũng không chịu biểu lộ thành dáng vẻ, thì ai biết ta có cảm nghĩ. (Vì thế, chớ “trông mặt mà bắt hình dong”, người trông “nguyên thủy” kia biết đâu chẳng là triết gia lớn!)

*

Văn hóa phẩm có thứ “riêng” vì liên hệ chỉ đúng một người, có thứ “chung” vì liên hệ hơn một người.

Văn vật chung: chẳng hạn, đê điều, thành quách, đền đài, cơ xưởng. Văn vi chung: chẳng hạn, đắp đê, xây thành, xây đền, dựng xưởng, đi chùa, đi xem hội, chống ngoại xâm. Văn cách chung: chẳng hạn, cái ánh mắt, vẻ mặt của người phụ nữ Việt Nam.

Văn vật chung, văn vi chung, văn cách chung chứa cảm nghĩ chung. Cứ có một số người chia sẻ cảm nghĩ chung về một số vấn đề cơ bản, là có một dân tộc.

*

Định nghĩa “Văn hóa là biết cảm nghĩ” liên hệ thế nào với từ “văn hóa” như được dùng phổ thông?

“Văn hóa” (phổ thông) có thể hiểu là “tất cả những vật những sinh hoạt những phong cách xuất phát từ khả năng biết cảm nghĩ”. Chẳng hạn, “văn hóa Việt Nam” là “tất cả những vật những sinh hoạt những phong cách xuất phát từ khả năng biết cảm nghĩ của dân tộc Việt Nam”.

Thế còn “văn hóa vật chất” và “văn hóa tinh thần”?

Có thể hiểu văn hóa vật chất là văn hóa nhằm cải thiện điều kiện vật chất, còn văn hóa tinh thần là văn hóa hướng về những giá trị tinh thần.


Viết 2005, sửa 2013
In trong
Cảm nghĩ miên man (2015)








___________
(1) Không đây là tương đối. Ngay con chó con mèo hình như cũng có tình cảm!