Thu Tứ, “Xuân Diệu nghĩ về thơ”




Nghĩ về thơ, biết bao nhiêu cái để nghĩ. Nếu người nghĩ là một nhà thơ, thì hẳn cái tập hợp những đề tài người ấy chọn nghĩ nó có liên hệ mật thiết với tập hợp thơ mà người ấy đã sáng tác.

Xuân Diệu nói về thơ nói chung chứ không phải nói về thơ Xuân Diệu. Vậy mà đọc những nhận thức thơ sâu sắc của ông, ta không khỏi liên tưởng đến “Vội vàng”, “Giục giã”, “Phải nói”, “Xa cách”, “Mãi mãi”, “Cảm xúc”, “Mời yêu”, “Yêu mến” v.v.

*

“Một trứ tác nghệ thuật lớn (...) bản thân (...) là sự sống”. Người sáng tạo nghệ phẩm thì cũng như Chúa sáng tạo người. Ðâu phải chỉ nặn cục đất, mà còn phải hà hơi, thì cái tượng ấy nó mới thành... ông A-đam. Hà được hơi mình vào tượng, không phải chuyện dễ. Cho nên không phải nghệ phẩm nào cũng là sự sống, mà chỉ một số ít thôi.

“Trong văn nghệ, trong thơ phải chân, nghĩa là mình có bao nhiêu tâm hồn thì viết bấy nhiêu, đừng gắng hơi, đừng cố mượn hơi ở đâu người khác mà thổi cái bong bóng của mình; phải chân chứ đừng định lừa người đọc, phải chân như cái hương tự nhiên của tâm hồn”. Khoảng cuối thập kỷ 1950, đầu thập kỷ 1960, ở Miền Nam có ví dụ đáng chú ý. Thi sĩ ấy thực ra khác hẳn Tây. Thế mà tự ép mình suy tư y hệt như thanh niên Tây bấy giờ đang suy tư, rồi đem cái nội dung thiếu hẳn chân thành ra làm thơ. Kết quả nghệ thuật dĩ nhiên thê thảm. Ờ, nhưng mà tại sao hồn phải thật thì xác mới có thể đẹp, nhỉ? Chắc Thật, Tốt, Đẹp là một, như có người đã nghĩ.

“Cuối cùng của thơ là lẽ đời, là chuyện sống, là lòng yêu. Bạn muốn làm thơ, bạn muốn làm thơ hay, mà bạn yêu cuộc sống như thế nào? Yêu qua loa, cảm xúc cạn như đĩa đèn, thì thơ không thể hay được. Cái phải bồi dưỡng trước nhất là tình cảm (...) phải có cái hồn”. Yêu đời hay chán đời đều có thể nên thơ hay, miễn là cảm xúc sâu như giếng. Không chỉ riêng làm nghệ thuật, bất cứ làm gì mà hờ hững thì cũng không thể nên hay. Cũng có ngoại lệ: mua vé số hờ hững vẫn có thể trúng độc đắc.

“Cảm xúc của nhà thơ thì nhất định không được già mà phải trẻ luôn luôn. Cái trẻ luôn luôn của cảm xúc, của yêu thương, chính là lực của sự (sáng tác) đó (...) Xúc cảm gắn liền (...) với cơ thể; bởi vậy nên phải đề phòng với tuổi tác, và bởi vậy nhà thơ phải chăm sóc cho sự nhạy bén lâu dài của xúc cảm ngay trong khi nó hãy còn tràn đầy (...) nhà thơ có thể vô tâm với sức xúc cảm của mình được sao? Cứ để cho nó tự nhiên nhi nhiên sớm nở tối tàn hay sao? (...) Nhà thơ nhận thức được, tự giác được về sức trẻ của (thơ) mình, thì có thể đẩy lùi được sự tàn phai và chọc thủng được sự bao vây của tạo vật. “Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non, hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo, hãy để cho bà nói má thơm của cháu, hãy nghe tuổi trẻ ca ngợi tình yêu…”. Nhà thơ đừng đứng yên chỗ để bị động với tuổi mà phải tìm chỗ đứng di động thế nào để cho sự vật lồ lộ cái góc độ nào có lợi nhất, trẻ nhất, đẹp nhất của nó”. Xuân Diệu không chỉ nói, mà hăng hái “nêu gương”: đọc những dòng tình tứ, đam mê trong “Đứng chờ em”, “Dấu nằm” v.v., ai ngờ tác giả thơ đã ngoại lục tuần! Nhớ “Ẩm tửu khán mẫu đơn” của Lưu Vũ Tích. Nhà thơ Trung Quốc đời Đường ấy ngắm hoa đẹp cao hứng uống hơi nhiều rượu, rồi ngại hoa lên tiếng bảo “Không nở cho người già”! Thiết tưởng nghệ sĩ già nên như Xuân Diệu, chớ ngại. Mình yêu hoa, bất kể hoa gì, là vì nghệ thuật. Yêu để có cảm xúc chân thành, mãnh liệt mà sáng tạo cho thành công. Yêu hoa vì thơ vì tranh vì nhạc... Còn hoa có yêu được mình hay không là chuyện khác. “Đẩy lùi được sự tàn phai và chọc thủng được sự bao vây của tạo vật”... Phát biểu sôi nổi quá. Không chỉ trong thơ mà ngay cả trong tâm sự về làm thơ, Xuân Diệu cũng nêu gương!

“Nghệ thuật luôn luôn là một thế quân bình linh động: quân bình giữa cái mới và cái bền, giữa cái tự do và cái gò bó. Nghệ thuật (...) sống nhờ mâu thuẫn mà chết trong sự (...) nhác lười”. Từ khi dân tộc Việt Nam tiếp xúc với văn hóa Tây phương, trong mọi sinh hoạt chứ không chỉ riêng làm nghệ thuật, một vấn đề “quân bình linh động” luôn luôn đặt ra: đâu là biên giới giữa tiếp thu tự chủ và bắt chước nô lệ? Đứng ở bên này và sát biên giới là tiếp thu tự chủ ở mức cao nhất, học được nhiều cái hay nhất mà vẫn là mình. Quá bước sang bên kia là bắt đầu thành... nô lệ. “Nhác lười” sẽ dần chết khô. Còn ngược lại thì... chết ướt, nghĩa là xác tươi rói đấy nhưng bên trong hồn Việt đã đi rồi.

“Trong một tác phẩm (...) cái (...) cần trước hết là cuộc sống (...) Tuy nhiên (...) muốn có tác phẩm hay thì còn phải biết đến (...) nghệ thuật (...) Tự nó (tức nghệ thuật), nó không là cái gì hết nếu không có (...) cuộc sống. Nhưng khi đã có (cuộc sống) mà không có (nghệ thuật) thì đó là (...) chất cuộc sống ở ngoài đời (...) nào phải đâu là chất cuộc sống (...) trong bài văn”. Nếu không có nghệ thuật, thì bài văn chỉ là một bản sao của thực tại. Bây giờ máy quay phim tốt thiếu gì, nếu chỉ muốn sao thì vớ lấy một cái, vừa đỡ tốn giấy mực lại vừa sao được chính xác hơn không biết bao nhiêu. (Đây chỉ nói cách dùng máy “giơ, bấm”, không nói về điện ảnh nghệ thuật.)

“Thực tế phong phú, ngồn ngộn, mạnh mẽ đến đâu cũng chỉ mới là quặng quý (...) phải đem tất cả (...) bỏ vào trong tâm trí mình (...) mà nhào luyện lại, tái tạo (…) Không nên thần bí hóa (...) “thơ là tiếng nói của thần linh”, cũng không nên tầm thường hóa (...) coi là một sự phô phang những tài liệu đã lấy được như khoe những “pô” ảnh chụp được”. Có thể nghĩ mỗi nghệ phẩm như một cái “bóng đời” trong tâm hồn người nghệ sĩ đã mượn chữ hóa thơ, mượn gỗ hóa tượng, mượn vải sơn hóa tranh v.v. “Hoa trong gương” có thể xem là hoa thật tái tạo không nhỉ?

“Không lấy hiện thực làm nền tảng của nghệ thuật thì chẳng ai muốn nghe, muốn gần cái trò chơi trống rỗng của những kẻ nhàn cư, nhưng không có cái tinh thần lãng mạn nhào nặn vào thì nghệ thuật ngột ngạt, khô khan, không có cánh!”. Làm nghệ thuật cần phải “nhào nặn” hiện thực... Tức vo tròn bóp méo, xuyên tạc hiện thực! Thì sao? Đừng tưởng làm khoa học không xuyên tạc. Kìa mặt trăng. Nhà thơ dùng tâm hồn mình vẽ vời thêm thắt cho nó nên... “vú mộng” (xem bài “Ca tụng” của XD). Nhà khoa học dùng trí óc mình đơn giản hóa nó thành... cục đất. Tưởng trăng không vú, mà cũng chẳng đất! Không đừng được, làm là xuyên tạc. Vậy chỉ cần lo xuyên tạc thế nào cho có kết quả. Làm thơ, hãy để cái “tinh thần lãng mạn” nó tha hồ nhào nặn cho đến khi thơ “thoáng, ướt và có cánh”!

“Tác phẩm nghệ thuật là một sản phẩm rất cá thể hóa, không thể họp những đầu, mình, tay, chân đẹp ở nhiều nơi để thành một con người đẹp được”. Chắc chắn không lâu lắm nữa, ra đường ta sẽ gặp những “người” mà ta cứ tưởng là người, trong khi đó thực ra là máy! Có máy giống hệt người, có lời giống hệt thơ... Thưởng thức nhầm một bài thơ lắp ráp giống như yêu nhầm một người máy.

“Mọi lý thuyết đều màu xám, và cây đời vĩnh viễn xanh tươi / Vĩnh viễn chim ca, vĩnh viễn nắng cười / Vĩnh viễn anh yêu em, như yêu sự thật / Và cây đời mãi mãi xanh tươi / Mãi mãi em ơi / Cây đời trĩu trái / Gió trong lá mùa thu rồi trở lại / Rì rào đôi ta tình ái muôn đời / Trong mắt đen em mãi mãi ánh trời / Ngời qua một sợi tóc buông rũ trán / Mãi mãi môi em nhụy đời vô hạn / Và cây đời ôi! sáng lạn xanh tươi”. Mọi lý thuyết đều đầy khái niệm. Khái niệm là thực tại sau khi đã đi qua trí óc ta. Thực tại vốn sống động, nhưng trí óc ta lọc hết chất sống, cho nên mọi khái niệm đều cứng đờ. Nếu trông “cây đời” mà ta không nghĩ gì hết, chỉ tập trung cảm, thì trong ta sẽ có một cái gì đó cũng “mãi mãi xanh tươi”...

“Chúng ta yêu cái thật đẹp, yêu cái đẹp thẳng cánh thẳng tay, yêu cái đẹp được diễn tả với một khiếu thẩm mỹ chắc chắn và đồng thời chúng ta rất sợ cái đèm đẹp...”. “Khiếu thẩm mỹ chắc chắn” mấy ai có, nên “đèm đẹp” bao giờ cũng nhiều hơn hẳn đẹp. “Rất sợ” đây là một người làm nghệ thuật tự hỏi mình có bao giờ làm ra được “cái đẹp thẳng cánh thẳng tay”? Hay là một người thưởng thức không muốn tiếp xúc với những cái gì nửa vời? Dù sao, đẹp vốn thường nổi bật, bây giờ đẹp lẫn vào đèm đẹp. Tưởng rất nên buồn.

“(...) làm thơ vì sự thúc đẩy bên trong, vì nhu cầu của tâm hồn. Thắt lại đến cùng vẫn phải có cái động cơ ấy: Tôi cần làm thơ, như tôi cần yêu người yêu! Nếu ta không có cái nguyên cớ cuối cùng ấy thì ta không làm thơ nổi (…) Khi người thi sĩ xông vào con đường thăm thẳm của thơ, họ mơ ước những hạt ngọc Lam Điền mới đông và sáng mãi mãi”. “Tôi cần làm thơ”, không phải làm lấy có, mà làm hết sức nhằm sáng tạo ra thơ tuyệt tác. Tốt, phải có cái mơ ngọc thì may ra mới có ngọc. Ờ nhưng tại sao ta lại đi mơ làm được thơ hay, nhỉ? Xuân Diệu bảo vì “cái sự dứ ghê gớm: (thơ hay) sẽ sống mãi”. Nghĩa là vì cái rất chóng “tắt” là ta muốn để lại một cái gì “sáng mãi mãi”… Bể dâu rồi, người xưa ơi. “Mãi mãi” là trong tâm hồn, mà tâm hồn thì đang hấp hối! “Ngọc Lam Điền” đông dưới mắt thờ ơ, ít lâu nữa sẽ thôi hẳn đông.

“Việc sản xuất thơ không thể bảo đảm chất lượng đều luôn như sản xuất ở nhà máy. Làm được mười bài thơ hay hoặc khá, đến bài thơ thứ mười một vẫn cứ có thể dở. Hai mươi năm thơ nở như hoa tươi và ướt, đến năm thứ hai mươi mốt thơ có thể gạn (gạo?), khô!...”. Việc sản xuất thơ tùy thuộc vào độ nhậy cảm của nhà thơ với cuộc sống, năng khiếu diễn cảm nghĩ thành lời đẹp, và hứng. Cả ba yếu tố đều thay đổi theo thời gian và hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát, làm sao nhà thơ đảm bảo chất lượng “sản phẩm” được. Nhà máy hoạt động cũng tùy thuộc những yếu tố có thể thay đổi, như cung cấp năng lượng, tình trạng máy móc, độ lành nghề của lao động... Chỗ khác, so với nhà thơ, là tất cả yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất đều nằm trong tầm kiểm soát của con người.

“Cá nhân (...) rất quan yếu. Văn nghệ không phải cứ mãi là phong trào mà được; văn nghệ không chịu được cái sàn sàn. Phải có những tài năng, những thiên tài (...) những thiên tài này do quần chúng, do phong trào đẻ ra, nhưng (...) cất lên những tiếng hát thật đặc biệt, thật cá tính, thật bản sắc”. Mỗi phong trào văn nghệ nó như một cái cây hoa mới. Phải liệu đơm hoa, càng nhiều càng tốt, chứ không thể cứ toàn lá mãi! Hoa văn nghệ cũng như hoa thật, không giống... lá. Hoa văn nghệ, ngoài ra, còn không giống nhau: chẳng hạn cùng nở trên cây Thơ Mới, nhưng đóa Xuân không giống đóa Huy, đóa Hàn, đóa Chế v.v.

“Trong văn học nghệ thuật, chúng ta phải thực hiện cho thành một quy luật cái câu “càng già càng dẻo càng dai”; mặt khác, chúng ta cũng hướng về những bạn làm thơ trẻ để tìm những tài năng mới khơi ra được những dòng suối xuân trong xứ thơ, đem đến những giọng điệu mới mẻ. Là vì ở trong tuổi bắt đầu cuộc đời, người ta có trăm nghìn cảm xúc mới lạ, người ta có cái sức trẻ rất cần thiết cho thơ...”. Xuân Diệu “trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ” mà như ôn chuyện chính mình: vừa tiếp xúc sơ sơ với cuộc sống, ông đã nẩy ngay “trăm nghìn cảm xúc mới lạ”; vừa tập sáng tạo, ông đã đem đến ngay cho thơ Việt Nam một “giọng điệu mới mẻ” có sức hấp dẫn lâu dài. Nhưng như ông là hết sức ngoại lệ. Lệ là, phải từng trải cuộc sống, phải lăn lộn với việc làm thơ, thì thơ may ra mới nên hay. Không phải càng trải càng lăn càng hay. Có khi trải quá hóa chua, đắng, hoặc hóa chai đờ; lăn quá hóa máy móc! Thơ hay nhất ra đời khi nhà thơ vừa cảm xúc đậm đà, đằm thắm, vừa chưa thành dây chuyền lắp ráp chữ nghĩa. Trẻ là tương lai. Ta nên hướng về những bạn trẻ nhưng chớ nên tán thưởng họ dễ dãi quá, kẻo khiến thơ không có... tương lai. (Trong tình hình văn hóa diễn biến hiện nay, đằng nào thơ cũng không có tương lai!)

“Thơ không phải chỉ là một nội dung tư tưởng, tình cảm, thơ còn là cái thần của ngôn ngữ nữa”. Không phải ngôn ngữ nào cũng nhiều “thần” như ngôn ngữ nào. Tiếng Việt và các thứ tiếng Tây, bên nhiều thần bên ít thần chênh lệch nhau đến mức trở nên cái khác về chất chứ không phải về lượng nữa. Lời ta nói gồm những từ hết sức gợi cảm, gắn bó với nhau cách tự nhiên, hữu cơ, thành một toàn thể liền lạc, giống như một sinh vật! Lời Tây nói gồm những từ gần như trơ trơ, được lắp ráp lại với nhau theo một ngữ pháp cứng nhắc, thành một tập hợp bộ phận, giống như một cái máy!(1) Tuy khi làm “thơ” Tây có linh động phần nào cách lắp từ, nhưng nói chung kết quả cơ bản vẫn “chỉ là một nội dung” thôi. Oái ăm, chính nhờ đó “thơ” Tây có thể được dễ dàng “chuyển” qua đủ thứ ngôn ngữ khác cho cả thế giới đua nhau trầm trồ!

“Người nghệ sĩ (...) cần tu dưỡng cái khả năng biểu hiện lại sự sống”. “Sự sống” đây không phải là trời đất, núi sông, cây cỏ, chim muông, hay cô gái nào cả. Mà là ấn tượng của ta khi tiếp xúc với... Chỉ cái sống mới thực diễn được cái sống. Vậy thơ sao cho lời lời tươi rói đó thì thơ!

“Nhà thơ mang nhược điểm của mình như một cây đàn mang hạn chế của nó: đàn nguyệt gảy bằng ngón tay: tiếng tròn, đàn nhị kéo bằng vĩ tơ: tiếng dài, nguyệt không réo rắt xé không gian được như nhị, nhị không thánh thót “mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân” được như nguyệt; vấn đề ở chỗ: nguyệt hay đến độ cao nào? nhị hay đến đỉnh chót nào?”. Đàn nhiều loại. Nhà thơ càng nhiều loại: mỗi nhà thơ là một loại! Có loại Thiều, loại Điểm, loại Du, loại Trứ, loại Quát, loại Khuyến, loại Xương, loại Hiếu, loại Xuân, loại Huy, loại Bính, loại Hàn, loại Chế v.v. Bất cứ loại nào cũng vừa “không (...) được như” bất cứ loại nào khác, lại vừa có cái hay riêng không loại nào khác có được. Hành trình sáng tạo nghệ thuật là cố đi cho đến cái “đỉnh chót” của “cây đàn” mình. Chẳng hạn, “con chim đến từ núi lạ”(2) có một lối hót riêng chưa chim nào từng, nó đã cứ thế mà “dào dạt với âm thanh” suốt đời, để lại cho ta những “tiếng lòng” say sưa chót vót!

Đàn nào chả có hạn chế
Đừng ôm nguyệt mà réo rắt
Hay kéo nhị cho thành giọt!
Sáng tạo
Là cố đi
Sao cho đến đỉnh mình.


(Nhận định viết vào nhiều lúc khác nhau,
tập hợp thành bài với lời dẫn năm 2014,
in vào sách
Cảm nghĩ miên man năm 2015)









_________
Tất cả các chỗ trích dẫn lời Xuân Diệu đều từ:
-
Các nhà văn nói về văn, nxb. Tác Phẩm Mới, 1985
-
Ba thi hào dân tộc (Xuân Diệu viết), nxb. Thanh Niên, 2000.
(1) Xem bài “Tương lai từ vựng tiếng Việt” và bài “Tương lai ngữ pháp tiếng Việt” của TT.
(2) Xem “Lời thơ vào tập Gửi hương” ở đầu tập thơ
Gửi hương cho gió của XD.