Thu Tứ, “Cao Xuân Huy nghĩ về triết”




Cao Xuân Huy chuyên trị triết Đông, nhưng cũng rất am tường triết Tây. Đối chiếu với cái tương phản vẫn là một cách giúp ta hiểu chính mình sâu sắc hơn.

Sau đây là một số phát biểu trong Tư tưởng phương Đông – Gợi những điểm nhìn tham chiếu, thêm một ý kiến do Cao Xuân Hạo ghi lại ở nơi khác.

*

“Cái sinh khí được thêm vào những yếu tố khoáng vật để tạo thành sinh vật không phải một thực chất do khoáng vật sinh ra mà là một khả năng đã có sẵn ở trong Toàn thể, trong Bản thể (...) Nhìn theo quan điểm chủ toàn thì từ khoáng vật đến sinh vật không có một sự nhảy vọt, một sự biến chất nào cả; giữa khoáng vật và sinh vật, không có một sự dị biệt về tính chất mà chỉ có một sự dị biệt về trình độ” (tr. 165, 172). Giữa “hạt bụi nào” với “thân tôi” không có “một sự biến chất nào cả”. Chẳng qua Trịnh Công Sơn “trình độ” hơn bụi. Trình độ mấy rút cuộc cũng phải “về làm...”. Và lúc nào cũng có hằng hà sa số hạt bụi đang “hóa kiếp” thành hằng hà sa số “tôi”... Dịch mới vui.

“Với phương thức chủ toàn, tư tưởng xuất phát từ toàn thể để đi đến bộ phận (…) toàn thể quyết định bộ phận; toàn thể không phải chỉ là tổng số của bộ phận, nghĩa là các bộ phận cộng lại không nói hết được cái nội dung của toàn thể - đặc tính của một bộ phận bị quyết định bởi quan hệ của nó đối với toàn thể và đối với các bộ phận khác (...) Phương thức chủ toàn của tư tưởng có tính hữu cơ, năng động, liên tục (...) Phương thức chủ biệt của tư tưởng xuất phát từ bộ phận để đi đến toàn thể (…) bộ phận quyết định toàn thể, toàn thể là do các bộ phận ghép lại mà thành, toàn thể chỉ là tổng số của các bộ phận (...) Phương thức chủ biệt của tư tưởng có tính cơ giới, cố định, gián đoạn” (tr. 83, 84). Không khỏi nghĩ đến trực giác và suy luận. Khi trực giác, ta tập trung trí óc một cách “tổng quát mông lung”, đợi chờ giây phút bỗng nhiên “ngộ” ra một chân lý có thể cắt nghĩa được một số hiện tượng. Khi suy luận, ta tập trung trí óc vào một số hiện tượng, cố xây một con đường dẫn đến cái chân lý đằng sau những hiện tượng ấy. Trực giác có thể sử dụng trong đời sống hàng ngày, hay trong nghiên cứu khoa học. Nhiều khám phá khoa học quan trọng đã dựa vào trực giác. Trực giác có thể hướng về mục tiêu tối hậu: thiền là trực giác để mong thấy Có là Không.

“Các hiện tượng đều là những trạng thái của bản thể, không có vấn đề quan hệ nhân quả giữa hai hiện tượng nhất định mà chỉ có vấn đề quy luật xuất hiện của một trạng thái nào đó, sau một trạng thái nào đó” (tr.113). Thấy “sân trước, vườn sau”, ta không nghĩ sân là “nhân” của “quả” vườn. Nhưng thấy việc A trước, việc B sau, thì ta hay cố liên hệ B với A. Óc loài người có khuynh hướng xem “trước, sau” giữa việc với việc khác “trước, sau” giữa vật với vật. Thời gian nẩy sinh từ đó. Thử đừng phân biệt thời gian với không gian. Thử hình dung toàn thể thực tại như một “cục”, mà thời gian chỉ là một kích thước. Mỗi lát mỏng vô cùng của cục ấy là thực tại ở một “thời điểm”... Nhưng có lẽ mọi cố gắng hình dung đều quá thô sơ.

“Ðạo là bản thể của vũ trụ (…) Thường hữu nghĩa là (…) tồn tại một cách hằng thường, vĩnh cửu, không bao giờ mất (…) Thường vô nghĩa là (…) tồn tại mà không (bao giờ) có hình thể (…) sinh ra trời đất vạn vật mà không thành trời đất vạn vật (…) Đạo (…) là thường vô cho nên (…) lại là thường hữu” (tr. 419). Đạo không có hình thể thì làm sao biết là “có”? Thử nghĩ nếu không có Đạo thì trời đất vạn vật ở đâu ra? Nếu không có biển, làm sao có sóng?!

“Phàm vật gì cũng có thể chất của nó và đức tính (hay bản tính) của nó. Chẳng hạn, nước thì thể chất của nó là H2O, đức tính hay bản tính của nó là (…) lỏng (…) loãng (…) Ðức tính của nước phát ra ngoài thành tác dụng, như thấm vào đất nuôi cây cối, bốc lên thành mây mưa v.v. (…) Ðạo là bản thể của vũ trụ; mà Ðức là bản tính, năng động tính, và tác dụng của Ðạo” (tr. 420). Chúng tôi cho rằng Đức là “cái sức đẩy nội tại đằng sau mỗi vòng sinh diệt. Ðức khiến Ðạo sinh vạn vật, rồi Ðức đẩy vật theo hướng ly căn, khiến vật mỗi lúc mỗi thêm xa Ðạo. Nhưng đến lúc nào đấy, Ðức sẽ bắt đầu đẩy vật theo hướng ngược lại để vật qui căn, về Ðạo”.(1)

“Tống Nho đã (...) gán cho Khổng Tử những tư tưởng triết học của Lão Tử. Ngoài ra, Tống Nho lại còn vay mượn cho Nho giáo nhiều khái niệm (...) của Phật giáo (...) cái mà người ta gọi là (…) Tân Nho giáo này thật ra chỉ là một hỗn hợp phẩm giữa Lão, Phật và Khổng” (tr. 179). Việc Nho giáo rút cuộc phải chấp nhận “hỗn hợp” với tư tưởng Lão, tư tưởng Phật, việc ấy thực ra nghĩa lý thế nào? Thiết tưởng, trên hết, nó phản ánh cái thực tế là sau bao nhiêu thế kỷ liên tục bành trướng về phía nam, chiếm đất của những dân tộc phi - Hoa, sống chung với họ, hợp chủng với họ, người Tàu đời Tống không còn là người Tàu thời Khổng Tử. Đến Tống, đã quá lâu cư ngụ nơi “thủy thổ” khác phương bắc, tiếp xúc với văn hóa khác văn hóa phương bắc, thậm chí trong huyết quản cái máu Hoa thực tế đã bị máu Việt tộc mơ màng pha đậm vào, làm sao người Tàu có thể tiếp tục “viễn chi” chuyện siêu hình được nữa?! Ðã có quá nhiều lời về chuyện người Hoa “hóa” các dân tộc khác. Tưởng đến lúc nên xem xét kỹ chuyện người Hoa bị hóa.(2)

“Con người phương Tây càng ngày càng bị giam hãm trong ý thức của mình” (tr. 148). Chúng tôi thấy câu chuyện mình tự giam mình nó như thế này. Người Tây phương bây giờ đặt trọn niềm tin vào khoa học, đồng hóa Thượng Đế với “Luật Tự Nhiên Cuối Cùng”. Cuộc hành trình đi tìm Luật có đặc điểm là dọc đường người đi liên tục đạt những tiến bộ vật chất có giá trị củng cố niềm tin. Càng đi càng tin, càng tin lại càng cố đi, cứ thế “buồng giam” ngày càng chật, rút cuộc sẽ chỉ còn chứa được đúng một cái máy vi tính hữu cơ quen gọi là “người”! À, cũng nhờ những tiến bộ vật chất ngoạn mục, người Tây phương coi như đã lôi kéo được toàn thể nhân loại vào “ở tù” chung với họ rồi.

“Theo thầy tôi, mỹ cảm là sự cảm thụ trực giác về sự hài hòa giữa tính nhất thể và tính đa dạng, giữa tính đồng nhất và tính dị biệt, giữa động và tĩnh, giữa sự hợp nhất và sự phân hóa (...) niềm khát khao da diết của con người vươn tới cái đẹp chính là nỗi nhớ nhung (...) không phút nào nguôi đối với sự hài hòa nguyên thủy”.(3) Cái đẹp không thể tính toán mà làm ra, mà thấy được. Loài người ngày càng say sưa tính toán, say đến nỗi vớ được cái gì là “tính” cái ấy, kể cả cái đẹp. Lý luận về nó, trời ôi! Xin hãy hướng cái óc khoa học về “Luật Cuối Cùng” mà để yên cho “sự hài hòa nguyên thủy”.


Viết tháng 4-2014
Sửa tháng 5-2017
In trong sách
Cảm nghĩ miên man, q. II, 2017








_________
(1) “Một cách hiểu Đức”,
Cảm nghĩ miên man (TT, 2015).
(2) “Mềm như nước”, sđd.
(3) Cao Xuân Hạo,
Tiếng Việt văn Việt người Việt, nxb. Trẻ, 2001.