Thu Tứ, “Chế Lan Viên nghĩ về thơ” (1)




Trong số các thi sĩ Việt Nam nổi tiếng, Chế Lan Viên hay nghĩ nhất.

Rất tự nhiên, nhà thơ đặt câu hỏi: Liệu nghĩ có nên được thơ không? Và tự trả lời: Tại sao không? Và tiến hành làm rất nhiều thơ giá trị mà nội dung chứa thuần nghĩ ngợi.

Thơ chứa nghĩ của Chế Lan Viên được chú ý quá, khiến có lẽ ta gần như quên rằng ông cũng có khá nhiều lần phát biểu những nghĩ ngợi độc đáo của mình ra bằng cách như mọi người, tức là bằng thứ lời không phải thơ.

Thi Sĩ Của Trí Tuệ trầm tư về đủ thứ cái và đủ thứ chuyện. Sau đây là một số phát biểu về thơ và việc làm thơ, bằng lời thường.

*

“Bất cứ thơ nào cũng là để đi đến trái tim người”. Lời thơ có nghĩa, nên thơ ít nhiều phải đi qua óc. Nhưng thơ đích thực không dừng lại ở óc, mà tiếp tục “đi đến trái tim người”. Thơ qua óc, để lại chút nghĩa làm kỷ niệm! Thơ đến lòng, để lòng ôm lấy lời thơ mà rung động miên man.

“Khi ta nói cô diễn viên kia đóng kịch rất hồn nhiên, nhờ cô đã tập vất vả hàng trăm lần, thì ai cũng đồng ý. Nhưng khi nói về thơ, thì người ta cứ muốn nhà thơ, mở miệng ra là thành thơ... vọt một cái thành thơ”. Tại sao thế nhỉ? Tại sao lại có cái nếp nghĩ rằng diễn viên đóng “nên kịch” phải vất vả còn thi sĩ làm “nên thơ” thì chỉ cần... vọt miệng?! Có lẽ vì đa số dễ dàng hình dung được cái “công phu” mà diễn viên phải bỏ ra để hóa thân thành nhân vật, trong khi rất ít người thấu hiểu cái quá trình sáng tạo một bài thơ. Ða số xem thơ như châu ngọc nằm sẵn trong bụng nhà thơ, chỉ chờ được phun ra! Làm gì có ai có châu ngọc sẵn. Con trai dưới biển phải chịu một vết thương, rồi bồi đắp bao nhiêu năm mới có một viên. Loài người “ưu việt”, nên hễ có khiếu thì thường “bồi” được nhiều “viên” hơn, nhưng từng viên cho đáng nên “ngọc thơ” vẫn là bao nhiêu vất vả.

“Trí tuệ làm cho thơ khô đi ư ? Anh ngỡ chất liệu sống mà nhồi nhét không đúng cách vào thơ, không làm chết thơ đi đấy chắc? (...) Ðừng có nói trái tim cao hơn bộ óc!”. Hồn của thơ cứ gì phải là cảm xúc. Chế Lan Viên ưa nghĩ và hay lấy những cái nghĩ của mình ra làm thơ. Rõ ràng thơ chở nghĩ vẫn có thể “ướt”, “sống”. Miễn có tài thơ, thì trí tuệ cũng nên thơ!

“Trong lúc sáng tác ta đừng tìm cách để “lộ” cái ta ra, cũng đừng tìm cách “giấu” nó. Cứ tự nhiên, hồn nhiên (…) Thế rồi trong khi ta ngỡ là chỉ (…) thì ta đã vô tình (…) cả ta trong ấy”. Có tự nhiên, hồn nhiên, thì mới nhập được chính mình vào trong nghệ phẩm. Nghệ phẩm giá trị, lột được tinh thần của cái gì đó, thực ra là nghệ phẩm nhập được chính tác giả vào trong nó.

“Nội dung quyết định hình thức là vật lộn cùng hình thức để nói được nội dung”. Nói về thơ thì cuộc “vật lộn cùng hình thức” bắt đầu với việc chọn thể thơ. Tứ quyết định thể... Nhưng tứ hoàn chỉnh đã có đâu?! Thoạt tiên, nhà thơ chỉ mới có một bào thai tứ. Thiết tưởng trên thực tế kết quả chọn hình thức thường tùy thuộc vào: hoặc trạng thái tâm hồn nhà thơ lúc đó, hoặc gợi ý tình cờ lúc đó, chẳng hạn nhà thơ vừa đọc xong mấy bài lục bát nên thể lục bát đang nổi bật nhất trong lòng, hoặc quyết tâm nào đó, như nhất định dịch thơ Đường thành thơ lục bát để so chơi! Dĩ nhiên sau khi làm xong bài, hay được một số câu, nhà thơ có thể cảm thấy chọn lựa hình thức ban đầu là không ổn, và quyết định làm lại theo hình thức khác. Còn điều này nữa. Đành mỗi thể thơ có một phong cách riêng. Nhưng cái sức diễn của mỗi thể nó vẫn luôn bất ngờ. Cứ thử làm theo thể ấy đi, biết đâu sẽ làm nên một bằng chứng về độ linh động của nó đấy. Như song thất lục bát ta quen nghĩ là chỉ thích hợp để diễn một tâm trạng (của cung nữ, chinh phụ v.v.), nhưng “Tỳ bà hành” và “Trường hận ca” cơ bản là kể chuyện, thế mà Phan Huy Vịnh và Tản Đà dịch ra song thất lục bát, vẫn hay tuyệt!

“Nhất dáng, nhì da, thứ ba khuôn mặt (...) Thơ cũng vậy. Trước hết phải đẹp toàn bài. Phải được toàn bài. Phải có ý của toàn bài. Toàn bài phải nhằm cái gì đã rồi mới nói đến câu. Một bài thơ mà ghép nhiều câu hay lại chưa chắc đã là một bài hay (...) thơ phải được tổng thể, hay tổng thể đã rồi mới bàn đến câu. Nó như cái dáng chung của người đẹp (...) Tổng thể bài thơ như cái quạt thì câu thơ như cái nan quạt và tứ thơ như cái đinh găm các nan quạt lại. Không có cái đinh (...) thì (...) không thành quạt”. So sánh cái nọ với cái kia bao giờ cũng chỉ đại khái. Chớ nên thắc mắc “khuôn mặt” của thơ nó ở đâu, hay nếu nan quạt là câu thơ, đinh găm là tứ thơ, thì giấy phất quạt là cái gì của thơ?

“Chúng ta rất mừng khi thấy một nghệ thuật nào đó có gốc rễ sâu trong quá khứ dân tộc. Nhưng nghệ thuật cũng như cái cây vậy, nếu rễ ăn sâu nhưng cây đã ruỗng đã già thì có nghĩa gì. Theo tôi, không phải cái gì cổ nhất thì dân tộc nhất (...) Dân tộc, theo tôi nghĩ, cũng không bắt buộc là phải xuất xứ, sinh sản ngay từ trong dân tộc ấy (…) Ta hay nhầm lẫn “vin vào cái gốc”, “giữ vững cái gốc”, với “bo bo lấy gốc”. Bo bo lấy gốc thì không tiếp thu cái mới, tiếp thu hiện đại được! Mà “mới”, “hiện đại”, là nhu cầu cấp thiết của tất cả mọi (…) nghệ thuật nào muốn tồn tại”. Giữ cũ hay không?... Nhận mới hay không?... Dù chính trị hay nghệ thuật hay bất cứ, chỉ là băn khoăn lý thuyết! Thực tế là không có nhà nước nào có thể thực sự quyết định hướng đổi của văn hóa tinh thần. Duy nhất độ chênh trong điều kiện vật chất giữa ta và người quyết định mà thôi. Nếu vật chất người hơn ta, thì vừa người bắt được ta theo tinh thần người vừa chính ta tự nguyện theo. Lúc đầu sự đồng hóa là do người và do ta, nhưng chẳng bao lâu vì môi trường ta mỗi ngày mỗi thêm giống môi trường người, sự đồng hóa sẽ còn xảy ra cách tự nhiên, hoàn toàn ngoài ý thức của bất cứ ai. Không đừng được, ta sẽ hóa một về tinh thần với người hơn ta về vật chất. Ai chả mong thành tiên. Nhưng thiết tưởng đến năm 2013 thì cơ sự đã rõ ràng. Nhân loại đang hóa Tây để thành... quái!

“Chúng ta phải thắng một cái hồn nhiên thấp để đến một cái hồn nhiên cao hơn, thắng một cái hồn nhiên cũ để đến một cái hồn nhiên mới”. Nghệ thuật phải hồn nhiên. Muốn hồn nhiên phải tránh tính toán. Thơ Việt Nam từ vè lên đến Kiều là nhờ các cụ ta xưa kia đã cảm thật nhiều mà tính toán thật ít. Khá lâu sau Nguyễn Du, người Việt Nam vẫn cơ bản chủ cảm nên vẫn tiếp tục có thơ hay. Thơ hay về sau khác chứ không cao hơn Kiều. Khỏi ai bây giờ bận tâm tìm cách vượt Kiều. Bây giờ ta bắt chước Tây tính toán như điên. Không ra nổi thơ đúng nghĩa đâu, nói chi thơ hay.

“Làm thơ với trái tim, với chất sống, không đủ. Phải có văn hóa nữa”. Miếng ngon là cả một truyền thống ẩm thực chứ đâu phải chỉ là thịt. Thơ hay là cả một truyền thống thơ chứ đâu phải chỉ là “trái tim”, “chất sống”.

“Một nhà thơ tồi nhất cũng có thể có một câu thơ hay”. “Một con én không làm nên mùa xuân”. Nhưng gặp mùa thì cứ vào đi, không thấy xuân, biết đâu thấy én (một con). Nói vậy, chứ đã biết “nhà” ấy thuộc loại “tồi nhất” mà đụng thơ của “nhà” vẫn cố đọc vì mong thấy được một câu hay, thì cần phải là người chịu khó lắm.

“Văn xuôi (...) phản ánh được nhiều mặt (…) Thơ (...) bé nhưng là bé hạt tiêu”. Thơ “bản thân là sự sống” (Xuân Diệu). Trong khi văn xuôi diễn cách nhìn sự sống. Đằng gợi trực tiếp bằng lời, đằng gợi bằng cái “nhiều mặt” mà lời vẽ ra.

“Muốn có thơ hay thì phải sống, phải trải, phải chiêm nghiệm (...) Nghĩa là cái đầu vào phải nặng, phải khá. Chớ suốt ngày trà lá nói dóc, tán phét mà đòi thơ hay thì không có đâu (...) Con ong (...) cho đời (...) mật, còn con nhặng (...) có khi cũng hao hao giống ong (...) bay qua cả một mùa hoa cũng chẳng làm được trò trống gì, có khi lại làm thối hoa ra cũng chưa biết chừng”. Ờ nhỉ, nghệ sĩ như con ong. Xuân Diệu say sưa “hút nhụy của mỗi giờ tình tự”, rồi làm ra thứ “mật thơ” đọc rất dễ say... Mỗi khoảng thời gian sống, có thể một cái hoa! Thời gian sôi nổi tình tự với “em”, thời gian rạo rực cảm nghe đất trời, thời gian đau đáu nhớ quê, thời gian dạt dào yêu nước, thời gian rưng rưng trước bất hạnh v.v., hiển nhiên đều hoa cả. Nhưng thời gian uống rượu quay thìa ở Khâm Thiên, thời gian nằm canh ngọn đèn dầu lạc, thời gian đi thăm dân cho biết sự tình v.v., cũng hoa chẳng kém, như Nguyễn Tuân tiền chiến đã chứng tỏ bằng thứ “mật văn xuôi” đẹp đẽ độc đáo...

Trời sinh làm ong
Thì anh phải bay tìm hoa hút nhụy
Không phải để về ngủ kỹ
Mà để trăn trở, thao thức, tìm cách
                   biến tinh túy của hoa
                   thành tinh túy của mình
Giọt nhụy trót vào rồi
Phải làm sao cho ra giọt mật, nhé anh.


(Nhận định viết vào nhiều lúc khác nhau,
tập hợp thành bài với lời dẫn năm 2014,
in vào sách
Cảm nghĩ miên man năm 2015)










________
Nguồn trích dẫn:
-
Chế Lan Viên - Thơ văn chọn lọc, Sở Thông tin Nghĩa - Bình, 1988.
-
Các nhà văn nói về văn, nxb. Tác Phẩm Mới, 1985.
- “Chế Lan Viên nói về thơ”, báo
Văn Nghệ, số 15/11/2003.