Thu Tứ, “Phạm Quỳnh nghĩ sai nghĩ đúng”




Phạm Quỳnh dĩ nhiên là một nhân vật có vấn đề.

Cái vấn đề của Phạm Quỳnh có thể tóm tắt bằng bốn chữ tên một bài viết của ông: “Độc thư cứu quốc”.

Ông tin rằng thanh niên Việt Nam có thể bằng cách lo học mà giúp “cho nước khỏi yếu hèn mà nên mạnh mẽ”. “Nên” làm sao được!!! Giặc đang chiếm nước đời nào để việc ấy xảy ra!

Vậy “mạnh mẽ” đây là mạnh hơn mình trước thôi, nhưng vẫn yếu hơn “mẫu quốc” rất nhiều, vẫn phải tiếp tục làm “con”. Phạm Quỳnh không lấy phục hồi độc lập làm mục đích.

*

Tại sao một người tự xưng là ái quốc lại có cái thái độ hoàn toàn không thể chấp nhận được như thế?

Thiết tưởng có hai lý do.

Thứ nhất, khi nghĩ về văn hóa Tây phương, Phạm Quỳnh đã không sáng suốt bằng Trần Trọng Kim sinh trước, Cao Xuân Huy, Đào Duy Anh sinh sau. Ba người trí thức ưu tú kia đều thấy được những khuyết điểm chí tử của văn hóa Tây, riêng ông chỉ thấy ưu mà không thấy khuyết. Bởi ông đã bé cái nhầm khuyết thành ưu!

Bài “Danh dự luận” là một ví dụ tốt. Trong bài ấy, Phạm Quỳnh đi nức nở ca ngợi một đặc tính cơ bản hết sức đáng chê của văn hóa Tây phương là thượng tôn vũ lực. Vốn bên Tây có tục hễ xảy ra chuyện xúc phạm danh dự giữa hai cá nhân, thì giải quyết bằng một cuộc “duel”, nghĩa là quyết đấu bằng kiếm hay súng, “đánh trúng là (...) rửa được danh dự của mình”. Một cái tục thối (hủ) ngay từ lúc ra đời, Phạm Quỳnh lấy làm thơm: “ý nghĩa (...) hay lắm”! Vì tranh giành đất đai, mâu thuẫn quyền lợi kinh tế, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa quân phiệt, chạy đua vũ khí v.v., các nước Âu châu làm bùng nổ Thế chiến thứ Nhất gây gần bốn chục triệu thương vong. Một kỷ lục hàng đầu về bạo động trong trường kỳ lịch sử nhân loại, thế mà Phạm Quỳnh tán dương là “một cuộc “danh dự quyết đấu” của hai phe lớn trên thế giới cùng nhau tranh hơn tranh được”! Thật là quý Tây hơn cả Tây, quý đến nỗi mất hẳn lương tri!

Lý do thứ hai đằng sau thái độ lạ lùng của Phạm Quỳnh đối với việc nước là khi hướng về xã hội Việt Nam thì ông cũng nhầm cực to, theo hướng ngược lại!

Cũng trong bài “Danh dự luận”, vừa trầm trồ văn hóa vẻ vang gươm súng của Tây, Phạm Quỳnh vừa mạt sát dân tộc mình: “… mười mấy triệu con người đã từng luồn cúi quị lụy trong mấy nghìn năm”!!! Chuyện nhục nhã gì đây? Hóa ra, là cái khuyết điểm hiếu danh. Khuyết điểm ấy có thực, nhưng làm gì đáng cho ông dùng lời lẽ nặng nề đến thế! Ông lại phê phán thậm tệ “cái cách lễ phép của người mình”, bảo rằng “đáng khinh bỉ”. À, nó có thể bị lạm dụng mà hóa khuyết, nhưng cơ bản nó chính là một nền nếp tinh thần của dân tộc đáng trân trọng vô cùng! Vừa quá quá lời về những hiện tượng tiêu cực trong xã hội Việt Nam đương thời, Phạm Quỳnh vừa im lặng quái gở về một chỗ hay vô song đã tồn tại suốt bao nhiêu thế hệ. Ông không có mắt để thấy cái truyền thống lâu dài vô cùng cao quý của văn hóa ta là cứ hễ đất nước lâm nguy thì nhân dân sẵn sàng hy sinh tất cả để cứu nước mà không mảy may màng chút danh vọng nào, hay sao?! Phạm Quỳnh đã rẻ ta hơn cả Tây, đến cái mức mất lương tri và tối luôn mắt!

Về xã hội Việt Nam truyền thống, trong Việt Nam văn hóa sử cương (1938), Đào Duy Anh đưa ra nhận định đúng đắn: “... lấy gia tộc làm cơ sở (...) pháp luật và phong tục (...) thể tất nhân tình (...) thuần hậu, không như ở Tây phương, từ trong gia tộc ra ngoài xã hội việc gì cũng lấy pháp trị làm chủ, là thói khắc bạc phi nhân tình (...) nước ta xem việc dụng võ là bất thường (...) không như các nước Âu châu khi nào cũng cường binh độc võ (...) dân ta vốn trọng hòa bình chủ nghĩa”.

Nói nôm na, trong xã hội ta tình gia đình gia tộc đầm ấm, chặt chẽ, tình làng nghĩa xóm đậm đà, con người tâm lý lành mạnh, không ưa bạo động nhưng vì nước chiến đấu cực kỳ dũng cảm, tận tụy với người thân nhưng khi đất nước cần sẵn sàng hy sinh vô bờ bến...

Phạm Quỳnh bốc Tây lên tận mây xanh và hạ người Việt Nam xuống sát đất đen, thảo nào hững hờ với giành lại độc lập!

*

Nhưng Phạm Quỳnh không phải chỉ có nghĩ sai. Những khi hướng về cái tiếng “hay vô cùng” mà người Việt Nam nói, “cái thi vị thâm trầm (…) trong những bài dã ca, khúc cổ điệu của nước nhà (...) cái hồn thơ phảng phất của một dòng giống”, về nhân cách đặc biệt của “các cụ” v.v., ông nghĩ đúng.

Trường hợp Phạm Quỳnh, phải xét cả việc ông cũng có nghĩ đúng về dân tộc Việt Nam, thì mới hiểu trọn vẹn được.

Để ý, tuy không bao giờ nhắc đến phục hồi độc lập, Phạm Quỳnh chẳng những không kêu gọi bắt chước tất cả mọi cái của Tây mà còn “buồn thay” khi thấy đồng bào mình làm thế. Nhưng thế không phải là Phạm Quỳnh có dám chê Tây điều gì đâu, mà chỉ là do có biết đúng một số giá trị văn hóa Việt Nam, ông muốn nòi giống tiếp tục tồn tại với một tinh thần riêng biệt.

Vừa nghĩ đúng vừa nghĩ sai dẫn Phạm Quỳnh tới một “công thức”: nước Việt Nam hãy cứ giữ bản sắc văn hóa của mình nhưng tiếp tục ở dưới nước Pháp một bực, chỉ tự trị chứ không độc lập!

Công thức ấy đã vào sọt rác của lịch sử lâu rồi. Vì lợi ích chung, sau đây xin trích đăng lại một số lời Phạm Quỳnh hoặc bản thân có giá trị hoặc tình cờ gợi nhắc được vấn đề gì đó đáng chú ý.

*

“Thời thương lấy cùng”

“Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành, là nhiệt thành với chữ quốc ngữ (...) Người Tàu cai trị ta trong hơn ngàn năm (...) tiếng ta ta nói, ta không nói tiếng Tàu (...) Mục đích của tôi trong bài diễn thuyết này là muốn chứng rỏ rằng tiếng quốc âm ta phong phú là dường nào (...) Tiếng nước ta hay lắm, các ngài ạ. Người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hòa bình êm ái bằng (...) Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy, ra công tập luyện trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên. Dù ta học chữ Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng Tổ quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao (...) “Ta về ta tắm ao ta / Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn! / Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Tiếng của Tổ quốc thời thương lấy cùng”!” (PQ-1). Ngôn ngữ không phải chỉ là âm thanh. Tiếng Việt “hay lắm” nhờ âm thanh của từng từ và nhờ cái cách ta đặt các từ lại với nhau thành câu. Gì chứ để diễn cảm thì cái “ao ta” nó chắc chắn “trong” hơn hẳn “ao người”, bất cứ người nào. “Tiếng nước tôi” ơi, thương mấy cho vừa.

“Hay vô cùng”

“Tiếng ta (...) tỉ như tiếng ráp đôi thuộc về thể trạng từ, nghĩa là những tiếng để tả trạng thái của sự vật, thì hay vô cùng, tưởng không có tiếng nước nào bằng. Thử đọc mấy câu Kiều sau này thì đủ biết: “Nao nao dòng nước uốn quanh / Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc sang / Sè sè nấm đất bên đàng / Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh”. Những tiếng đôi như: nao nao, nho nhỏ, sè sè, rầu rầu, tinh thần lắm, đố ai dịch ra tiếng Tây cho thật đúng” (PQ-8). Từ tiếng Việt, vô số từ đâu chỉ có nghĩa mà còn chứa đủ thứ cảm giác cảm xúc vô cùng tinh tế, dịch làm sao được! Dịch “tiếng ta” là như giết một sinh vật, dịch xong chỉ còn cái xác trơ trơ!

Tiếng Việt giàu, nghèo

“Ðại khái tiếng ta giàu về phần “hình nhi hạ”, nghĩa là những sự vật có hình thể, có thể tả mạc ra được; mà nghèo về phần “hình nhi thượng” nghĩa là những nghĩa lý thuộc về tâm trí phải suy xét. Muốn dùng chữ triết học mà nói thì nói là tiếng An Nam ta có tính cách cụ tượng hơn là trừu tượng. Thuộc về phần “cụ tượng”, nghĩa là gồm cả thế giới hữu hình do giác quan có thể cảm được, như chữ Phật gọi là cõi hình sắc, thì tiếng ta thật là giàu có” (PQ-9). Đây cái nghĩ của Phạm Quỳnh có chỗ sai. Vấn đề ở chỗ, ông chỉ thấy một nhóm từ trừu tượng, tức những từ mà nội dung là “nghĩa lý (...) phải suy xét”, chẳng hạn, lịch sử, địa lý, chuyên chế, đế quốc (toàn vay tiếng Tàu!). Nhóm từ này xuất phát từ hoạt động của trí óc. Nhưng con người ta ngoài trí óc còn có tâm hồn. Không phải chỉ sản phẩm của trí óc mới trừu tượng. Sản phẩm của tâm hồn cũng đâu có “hình”, giác quan nào mà cảm được nó, nó trừu tượng chẳng kém mảy may! Những từ trừu tượng xuất phát từ hoạt động của tâm hồn chẳng hạn: áy náy, bâng khuâng, bẽ bàng, bịn rịn, canh cánh, chống chếnh, dằn vặt, đau đáu, e ấp, hằn học, hụt hẫng, hững hờ, khao khát, lâng lâng, mê mẩn, ngại ngùng, ngẩn ngơ, ngỡ ngàng, phơi phới, rạo rực, se sắt, thẫn thờ, thổn thức, xao xuyến, xốn xang. Ðây người Việt gần như không vay mượn của ai cả, vì tâm hồn đặc biệt đa cảm của ta nó làm tiếng Việt đã sẵn giàu có những từ ấy lắm rồi. Vậy có hai nhóm từ trừu tượng. Nhóm “Phạm Quỳnh” gồm những từ chỉ khái niệm. Nhóm nữa gồm những từ chỉ cảm xúc hay tâm trạng. Tiếng Việt quả rất nghèo từ trừu tượng thuộc nhóm thứ nhất. Nhưng nó chắc giàu từ trừu tượng thuộc nhóm thứ hai hơn bất cứ ngôn ngữ nào khác.

Đằng nào cũng dở

“Mượn lời nói của giống khác, thì tức là mượn tư tưởng của giống khác, vì là đem cái óc của mình khuôn vào từ điệu cú pháp của người, đem cái hồn của mình nhiễm lấy tính tình phong vị của người, đem cốt cách tinh thần của mình mà hy sinh đi để chuốc lấy cái cốt cách tinh thần của người (...) thành công (...) thì (...) thành một bản phóng của người (...) không thành công (...) ấy mới dở dang thay!” (PQ-2). Nếu bỏ hẳn tiếng Việt, dùng toàn tiếng Tây, thì chắc chắn sớm muộn sẽ “thành công”, thành một ông Tây da vàng. Nếu không bỏ hẳn tiếng Việt, nhưng mượn nhiều tiếng Tây đến nỗi không Việt hóa được, thì sẽ “dở dang thay!”, trở nên như bánh chưng nhân thịt bò. Còn nếu chỉ mượn rất ít tiếng Tây rồi sử dụng sáng tạo mà Việt hóa đi, thì lại là làm cho tiếng Việt thêm giàu. Thời Pháp thuộc qua lâu rồi, bây giờ kiểm điểm thì thấy rút cuộc ta đã nhập thật là ít tiếng Pháp: về từ vựng, vẻn vẹn một đôi trăm từ chủ yếu gọi tên những vật nọ vật kia mà người Pháp mang qua; về ngữ pháp, coi như không nhập gì cả, tiếng Việt vẫn “toàn thể” y như trong ca dao, trong Truyện Kiều... Tại sao kết quả là như thế? Bởi vì tiếng Pháp rất khác tiếng Việt, vì khi gặp tiếng Pháp thì tiếng Việt đã trưởng thành từ không biết bao giờ rồi, và vì thời Pháp thuộc tương đối ngắn. Tiếng Tàu giống tiếng ta hơn nhiều, lại vào rất sớm, thống trị hơn một ngàn năm, được tầng lớp trên đặc biệt quý trọng trong suốt gần một ngàn năm nữa, mà rút cuộc vẫn bị Việt hóa chứ không hóa được Việt, nữa là thứ tiếng lạ hoắc, qua trễ, ở ngắn kia!

“Nghĩ mà buồn thay”

“Người ta hay có tính về bè với bên mạnh mà ruồng rẫy kẻ yếu. Bên mạnh bao giờ cũng được phần hơn, bên yếu bao giờ cũng phải chịu kém. A dua với người mạnh chẳng lợi hơn là đeo đẳng với kẻ yếu ru? Ở đời nên vì lợi hơn vì tình; cái thuật sinh tồn là ở đó. Người mình đã sành cái thuật đó lắm, nên đối với quốc âm thường chểnh mảng, đối với chữ Pháp hay đậm đà (...) Nghĩ đến mà buồn thay!” (PQ-3). Thấy Tàu mạnh, quý chữ Tàu. Thấy Pháp mạnh, quý chữ Pháp. Thấy Mỹ mạnh, đua nhau trầm trồ tiếng Anh. Dĩ nhiên có phải chỉ quý chữ thôi đâu. Hễ thấy ai mạnh, là quý lấy quý để tất cả mọi thứ của người ta! Sống còn, sống còn... Còn xác mà hồn đã thành một “bản phóng của người” hay thành cái gì đó “dở dang thay!”, có đáng còn không?

“Một sự khả quái”

“Tôi diễn thuyết cả thảy năm lần (...) lần thứ ba ở Hội “Ðông Phương ái hữu hội” là một hội những nhân sĩ ở Paris có lòng yêu mến cái cổ văn hóa của các nước Ðông phương, lần này nói về thi ca Việt Nam, dịch những câu ca dao hay của ta và giảng về Truyện Kiều, kết luận rằng tiếng An Nam cũng là một thứ tiếng hay, chớ không phải là một cái thổ âm man mọi gì, và (cái sự) các trường của Quý Chính phủ đặt ra để dạy học cho người An Nam không hề lấy tiếng An Nam mà dạy cũng là một sự khả quái (đáng lấy làm lạ) (PQ-5). Chính sự ngây thơ của Phạm Quỳnh mới là khả quái! Pháp cần gì tiếng Việt hay hay dở! Pháp muốn ta học tiếng Pháp là để trước tiên tiện cho việc cai trị nước ta và sau đó, là để đồng hóa dân tộc ta!

“Không thể tưởng tượng”

“Tôi không thể sao tưởng tượng được rằng có ngày bao nhiêu cái nguồn sâu sinh hoạt của dân tộc này sẽ tiêu tan đi hết cả (...) rằng (...) cái thi vị thâm trầm nó chan chứa trong những bài dã ca, khúc cổ điệu của nước nhà (...) cái hồn thơ phảng phất của một dòng giống (...) đời đời cày sâu cuốc bẫm nhọc nhằn trên thửa ruộng của ông cha, nhưng nghe con chim oanh học nói, thoảng chút gió đồng thổi qua, cũng biết rùng mình mà cảm động. Tôi không thể tưởng tượng những cái đó có ngày biến mất hẳn đi được (...) trân trọng giữ những cốt cách tinh thần cũ đã tạo thành ra chúng ta bây giờ” (PQ-4). Năm 1990 “những cái đó” chỉ mới bắt đầu “biến”, thế mà năm 2017 đã cơ hồ “mất hẳn”... Sau gần ba mươi năm đất nước dâu bể như chưa bao giờ, điều kiện vật chất của dân tộc Việt Nam cải tiến rõ rệt. Mặt khác, “những cốt cách” từng giúp tiền nhân đạt những đỉnh cao về văn hóa tinh thần không nhường bất cứ ai đã bị hết sức khẩn trương triệt hạ!

“Gọi hồn phong nhã”

“Nhã là đối với tục (...) có vẻ êm ái thanh tao, gọi là nhã (...) Người nhã (...) có cái duyên đậm đà khiến cho người ta phải yêu phải mến (...) Xét người nhã là xét ở thái độ, hình dung, cử chỉ, ngôn ngữ, và thứ nhất là ở cái thị hiếu (...) Người nhã (...) đối với ai cũng có ý ân cần, tựa hồ như mình được tiếp người lấy làm vui vẻ; lại có ý lễ nhượng, tựa hồ như mình được tiếp người lấy làm trân trọng (...) đến đâu như cái hoa thơm đến đấy, ai là chẳng mến, ai là chẳng yêu (...) Người nhã nói có duyên có nhị, dễ toại lòng người (...) giọng nói cũng ung dung như vẻ người, khi vui vẻ không lả lơi, lúc giận dữ không to tiếng, một cái mỉm cười đủ biểu được lòng vui thú, một câu nói mát đủ rõ được bụng căm hờn (...) Thị hiếu là sự thích muốn của người ta, nhất là thích muốn trong cách ăn chơi (...) Người phong nhã thời ưa những cách chơi êm đềm thanh tú” (PQ-6). Nhã là nhẹ mà lại đậm. Nói chung, muốn nhã phải tu. Tu “đạo nhã” thành công, “thời đến đâu như cái hoa thơm đến đấy, ai là chẳng mến, ai là chẳng yêu”! Thơm, mến, yêu đổi cả rồi. Ta nay đa số yêu mến thứ mùi khác, với cái mũi cũ như dường không phải thơm.

Chồng vua vợ tể tướng

“Người chồng trị vì, người vợ cai quản” (PQ-7). Vua Tú Xương “dận giầy cầm ô” đi hát ả đào, để tể tướng “quanh năm buôn bán ở mom sông” mà nuôi một bầy hoàng tử công chúa với cả hoàng thượng! Vua Nguyễn Khuyến tuy đỗ đạt, làm quan, nuôi được vợ con, nhưng hẳn cũng chỉ trị vì mà không cai quản, nên mới thơ rằng “Vợ mà vụng dại, đếch ăn ai”... Ðây mới là thực trạng của đại đa số quan hệ vợ chồng trong xã hội ta xưa kia. “Chồng chúa vợ tôi” chỉ xảy ra ở một số ít trường hợp. Và đây là nét riêng của văn hóa Việt Nam truyền thống, phân biệt hẳn với đặc tính trọng nam khinh nữ của văn hóa Trung Quốc truyền thống.

“Các cụ thật đáng thờ”

““Ðạo học là cái học (...) tự mình tìm lấy được, chứ không phải đợi ở ngoài (...) đạo học thời những lời nói cũ tự trăm nghìn năm về trước, kẻ hiền triết đời nay vị tất đã nói được hay hơn (...) đạo học thời một lời nói một nửa câu, có thể (...) thụ dụng suốt cả đời không hết” (PQ dẫn lời Lương Khải Siêu) (...) Nay ta làm án cổ nhân mà buộc cho cái tội không gây nổi một nền quốc học cho nước nhà, ta cũng phải nghĩ lại mà lượng xét cái quan niệm về sự học của các cụ là thuộc về đạo học như vừa giải nghĩa (...) Các cụ (...) học là chủ để (...) trau dồi cái nhân cách (...) Nếu xét ở cách học để làm người của các cụ, thì ta thật đáng thờ các cụ làm ông cha, chứ không phải vì các cụ mà xấu hổ vậy” (PQ-11). Ðại khái, xưa kia các cụ học để làm người, còn bây giờ ta học để biết cách chế ra máy nọ móc kia. Học sao, nên vậy. Cho nên các cụ nên người mà không có máy móc gì để xài hết, trong khi ta máy móc um sùm mà mãi vẫn không “nên”!

Dấu xưa nào thấy

“Quan niệm về lịch sử nước nhà, trông quanh mình không có cái cảnh tượng gì đủ nhắc lại những sự nghiệp nhớn nhao của đời trước, tình ái quốc vẫn thường ngang ngang trong dạ” (PQ-10). “Cảnh tượng” đây hẳn là kiến trúc. “Không có” đây thực ra là “không còn”. Tại sao trên đất nước ta không còn di tích kiến trúc qui mô? Có hai lý do. Thứ nhất là nạn ngoại xâm và nội chiến. Thứ hai, vật liệu xây dựng phổ biến là gỗ không phải là vật liệu bền trong môi trường nhiệt đới. Nhớ Hoàng thành Thăng Long xưa: “Di tích kiến trúc như A1 rất hiếm hoi. Ngay cả các di tích vĩ đại như Rô-ma ở Ý, Trường An ở Trung Quốc hay Heian-Kyo ở Kyoto cũng không thể vĩ đại như di tích ở đây” (G.s. Yamanaka Akira, Đại học Mie, Nhật), “Qui mô kiến trúc rất lớn, gạch ngói và đồ gốm được khai quật tại đây rất cao cấp (...) đối với các nước châu Á di tích này rất quan trọng và quý hiếm” (G.s. Imaizumi Takao, Đại học Tohoku, Nhật)” (TTT). Nhớ những kiến trúc Phật giáo vĩ đại xây vào đời Lý (TNT). Nhớ cái Trịnh phủ nguy nga Hải Thượng Lãn Ông tả trong Thượng kinh ký sự: “Qua mấy lần cửa (...) đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương. Những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp (...) đến cái điếm “Hậu mã quân túc trực” (...) làm bên một cái hồ, có những cái cây lạ lùng và những hòn đá kỳ lạ. Trong điếm, cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinh đẹp (...) Qua dãy hành lang phía tây, đến một cái nhà thật là cao và rộng (...) Lại qua một cửa nữa, đến một cái lầu cao và rộng (...) cột đều sơn son thếp vàng”. Hỡi ôi: “Khói lửa bốc lên ngất trời, hơn mười ngày chưa tắt (...) lâu đài cung khuyết hai trăm năm trời (...) thành ra bãi đất cháy sém (vua Lê cho đốt phủ khi Trịnh thất thế, Hoàng Lê nhất thống chí). Nhớ cả những cơ ngơi bề thế tả trong văn học tiền chiến, giá những cơ ngơi ấy còn, để người Việt Nam bây giờ biết nhà ở của dân tộc mình xưa kia có thể rất to đẹp chứ không phải chỉ toàn mái tranh vách đất lụp xụp...


Viết tháng 1-2014
Sửa tháng 7-2017
In trong sách
Cảm nghĩ miên man, q. II, 2017




___________
PQ-1: “Tục ngữ ca dao” (1921), đăng trên
Nam Phong, in lại trong Mười thế kỷ bàn luận về văn chương, nxb. Giáo Dục, 2007; PQ-2: “Quốc học với quốc văn” (1931), đăng trên Nam Phong, in lại trong Luận về quốc học, nxb. Đà Nẵng, 1999; PQ-3: Bài không biết tên (1919), đăng trên Nam Phong, in lại trong Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, Phạm Thị Ngoạn, nxb. Ý Việt, Pháp, 1993; PQ-4: “Nước Nam năm mươi năm nữa thế nào?” (1930), đăng trên Nam Phong, in lại trong Phạm Thị Ngoạn, sđd; PQ-5: “Thuật chuyện du lịch ở Paris” (1925), đăng trên Nam Phong, in lại trong Du ký Việt Nam, nxb. Trẻ, 2007, tập II; PQ-6: Phạm Quỳnh, “Gọi hồn phong nhã”, đăng trên Nam Phong, in lại trong Kim văn tân tuyển, Phạm Thế Ngũ, không biết năm nào; PQ-7: Theo Trần Quốc Vượng, trong Văn hóa Việt Nam - Tìm tòi và suy ngẫm, nxb. Văn Hóa Dân Tộc, Hà Nội, 2000; PQ-8, PQ-9: “Quốc học với quốc văn” (1931), đăng trên Nam Phong, in lại trong Luận về quốc học; PQ-10: Phạm Quỳnh, “Mười ngày ở Huế”, in lại trong Du ký Việt Nam, nxb. Trẻ, 2007, tập I; PQ-11:“Bàn về quốc học” (1931), đăng trên Nam Phong, in lại trong Luận về quốc học; TNT: Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, 2001; TTT: Tống Trung Tín, “Hoàng thành Thăng Long từ góc độ khảo cổ học”, in trong Tổng tập Nghìn năm Văn hiến Thăng Long, 2010?