Thu Tứ, “Tết, nhớ Tết”




Tết dĩ nhiên để đầy “vết” trong thơ văn Việt Nam. Nói ví von hơn thì trong vườn thơ văn ta có rất nhiều những đóa Tết. Nhân dịp Xuân lại sắp về, chúng tôi nảy ý vào vườn chọn một số hoa mang hương sắc xuân, cột thành bó, gửi chưng trên báo… Để cho thật vui, hoa chọn gồm đủ màu mùi quê, tỉnh, Bắc, Trung, Nam, nở bảy tám mươi năm trước có, mà mới nở độ một đôi chục năm nay cũng có…

Chợ Tết quê
“Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi / Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh / Trên con đường viền trắng mép đồi xanh / Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết / Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc / Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon / Vài cụ già chống gậy bước lom khom / Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ / Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ / Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu / Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau / (…) / Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh / Ðồi thoa son nằm dưới ánh bình minh / (…) / Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ / Nước thời gian gội tóc trắng phau phau / (…) / Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha / Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết / (…) / Những người quê lũ lượt trở ra về / Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê / Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ”.(1) Nhà thơ chơi màu thấy mà mê! Màu xanh đỏ tím vàng hồng lam đen trắng phấp phới trong thơ y như ngoài đời… Hoài Thanh bảo tác giả “nhận xét rất tinh” và có “hồn thơ phong phú”. Hẳn thế, nhưng tưởng trước tiên là có một tấm lòng yêu quê thắm thiết. Không yêu lắm lắm, chắc không thấy những “tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa”, “con trâu đứng vờ dim hai mắt ngủ” v.v. đâu. Năm 1941, Hoài Thanh viết “những hình ảnh cuộc đời Việt Nam xưa còn lưu lại trong thời nay chẳng bao lâu sẽ mất hết”. Tám thập kỷ rồi! Giờ muốn thấy chợ Tết quê, chỉ có cách ngâm nga thơ xưa một lúc, may ra gọi được hồn về…

Chợ Tết Hà Nội
“Những buổi theo vợ đi chợ (…) đông quá, chen chân không được mà sao vợ mình cứ đi dẻo quẹo, không tỏ vẻ gì mệt mỏi (…) Mình mệt muốn đứt hơi (…) mà cứ phải đi theo xách làn mây lẽo đẽo (…) nhưng (…) chợ Tết (…) hấp dẫn hết sức kì lạ, muốn về nhưng lại cứ muốn đi (…) Ngồi trên cái ghế dài thấp lè tè, làm một khói thuốc hãm với nước trà tươi nóng, người chồng lại lim dim con mắt nhìn qua làn khói (…) Cái yếm sồi của cô gái quê khéo đa tình lại đeo một lá bùa vàng (…) chiếc quần là ống sớ của chàng trai (…) cái áo tam giang của cô gái bán dừa (…) Ông thầy bói chít khăn nhiễu nước dưa có nhìn thấy quái gì đâu mà sao cứ nghển nghển trông vào những bức câu đối đỏ của ông đồ bán chữ? (…) Mấy ông lái trâu nói thứ tiếng gì mà nghe như tiếng xạ phang, còn các bà bán cây sao hôm nay ăn trầu tươi thế? Nhưng tất cả… tất cả đều thua hai chị em cô hàng bán chiếu cạp điều cười đã xinh, ăn nói lại tình”.(2) “Xách làn (…) lẽo đẽo”, giá phải ngày thường thì... lạy mợ cho tôi ở nhà, nhưng đây lại là chợ Tết. Phải đi để xem... thơ Ðoàn Văn Cừ. Ngày ấy Hà Nội còn nhiều nét quê. Mơ màng chợ trong thơ xong, “người chồng” mới ngắm kỹ cái chợ thật quanh mình: này ông, này ông, này ông, này bà..., và ô kìa, “hai chị em”. Lạ chưa, chị em người ta chỉ ngồi bán chiếu cạp điều, cớ sao người ấy “lại thấy như có hoa nở ở chung quanh”, lại muốn “mua luôn đem về vì ngộ quá, y như thể một cặp búp-bê Nhật Bản”?! Ấy, chớ ai phải ngại. “Mình” chỉ trông hoa biết nói “mà nghĩ một cách tội lỗi thế thôi, và chỉ tán láo tán lếu tí ti thôi, chớ đâu dám đi sâu quá...”. Hễ “quá” thì phải buông làn xuống, thôi lẽo đẽo, khó lắm, “búp-bê” ơi.

Pháo đẹp, pháo thơm
“Người ta đi mua giấy bản trắng (…) quét phẩm màu đào cả hai mặt để quấn pháo. Giấy làm ngòi pháo, thứ giấy dó phải thửa riêng có sợi dai và đanh mặt, cháy chậm, nhà làm pháo đi kén giấy làm ngòi pháo ở vùng Bưởi. Công phu nhất là thuốc pháo (...) Hàng thúng bột than hạt quả xoan, hạt quả găng và hồng hoàng đỏ, trộn lại phơi khô để luyện thuốc (…) Chẳng nghe ai nói ở đâu có người bị què gãy, bị chết vì làm pháo (...) Năm mới, pháo nổ giòn, xác pháo màu hồng điều hây hây rơi xuống như những cánh hoa đào bích, trẻ con ùa ra sân chạy nhảy ngây ngất trong khói pháo. Người ta đi trong khói pháo thơm ngan ngát”.(3) Thật, nhiều lúc nhớ pháo buồn muốn khóc. Cả một cái phong tục đẹp tai đẹp mắt đẹp mũi và vui “ngây ngất” từng tồn tại trong suốt không biết bao nhiêu đời đã thôi rồi! Cái nét tưởng không bao giờ có thể thiếu trên khuôn mặt Tết thiếu hẳn đi thế mà cũng đã lâu rồi!...

Gói bánh chưng
“Thế mà đã 25 tháng chạp (…) gạo nếp đã ngâm kỹ, vo sạch, xóc muối (…) trắng ngần tựa thúng bông mới bật (…) đậu xanh đã đồ kỹ, xát sạch vỏ, giã tơi (…) Nhân bánh (là) mỡ và thịt (…) bóp với muối, hạt tiêu (…) Bác Vuông (…) xúc một bát gạo, gạt trên miệng bát rồi đổ rào rào lên tờ lá dong (…) vốc luôn một vốc đậu đổ lên trên gạo, san đều ra, rồi mới đặt mấy miếng nhân (…) vào. Xong (…) bác lại phủ lên trên một vốc đậu rồi trên đậu một miệng bát gạo (…) cầm ngọn và cuống tờ lá rộng khổ ở giữa xô đi xô lại để cho gạo lọt cả vào trong rồi bẻ khập xuống (…) “Buộc lạt (…) Phải đánh cho ra góc (…) ghì cho thật chặt (…)”. Bác gói bánh khéo thật (…) vuông vắn, chặt chẽ (…) Ba chiếc lạt kẻ trên nền lá dong xanh tươi thành những ô vuông rất đều đặn”.(4) Trong “nêu cao, pháo đỏ, bánh chưng xanh” thì nay chỉ bánh chưng là còn ở đời. Cái lối nó “ở” có khác xưa, vì bây giờ người ta chủ yếu đi mua chứ ít ai tự nấu. Mua thì không được hưởng cái vui nấu, bù lại bánh của nhà nghề thường ngon hơn. Này, to gần bằng viên gạch Bát Tràng là kích thước chuẩn, nhưng cái bánh chưng bé bằng bàn tay trông xinh ơi.

Cúng mứt
“Trong ba ngày tết, buổi chiều thường cúng mứt, không cúng cơm. Mứt bí, mứt hạt sen, mứt lạc, mứt dứa, mứt quất, mứt gừng, mứt phật thủ, bánh phồng Vẽ, bánh huê Cầu và sấy. Bánh phồng Vẽ là thứ bánh bằng bột nếp do làng Vẽ làm, áo đường trắng, to bằng quả trứng gà, ăn giòn tan và như biến đi trong miệng, để lại một hương vị rất thanh. Bánh huê Cầu là thứ bánh cũng làm bằng bột nếp, vuông gần bằng ba ngón tay, màu vàng, xanh và đỏ, bỏ vào chảo mỡ đang sôi, bánh nở cong rất đẹp. Bánh huê Cầu do làng Xuân Cầu làm (…) Sấy là thịt lợn nạc đập bẹt như chiếc bánh đa nhỏ, ướp nước mắm ngào với đường và riềng rồi đem sấy khô, dùng để nhắm rượu thì ngon tuyệt”.(5) Bánh mà như quả trứng gà, mà nở như cái “huê”! Cúng mứt có “sấy”, thế thì xem sấy là “mứt thịt” hay sao? Cứ theo cách làm, đấy là… khô lợn. Có khô nai, khô bò, sao không có khô lợn. Đã công phu làm sấy, phải thửa cho được thứ nước trắng của làng Vân nhỉ.

Hoa Tết
“Thủy tiên quý cả về sắc lẫn hương. Lá xanh, rễ trắng muốt, hoa thì như một cái chén vàng đặt giữa cái đĩa bạc. Hương nó thật là thanh quý (hương huệ và sen thì thanh cao) (…) Vào Nam, Tết nào tôi cũng nhớ đào và tôi viết tập Hoa đào năm trước chính là để cho vơi lòng nhớ đó. Ở Sài Gòn, từ mươi năm trở lại đây, gần Tết, đường Nguyễn Huệ thường bày bán ít cành đào chở máy bay vào (...) Hoa đào mà đày vô miền nắng cháy này thì lam lũ, đáng thương như thiếu nữ đài các, mơn mởn mà phải tát nước hay nhổ mạ dưới nắng hè. Ở đâu chỉ nên chơi hoa ở đó, miền Nam có mai vàng, tuy không đẹp bằng đào, nhưng rực rỡ, có vẻ phú quý, lại có ám hương thoang thoảng lúc ban mai, mà gốc mai vàng thịnh khai nổi bật trong vườn lá xanh, coi thật hòa nhã”.(6) Củ thủy tiên hình như đến nay vẫn phải nhập từ Trung Quốc. Còn chính nghệ thuật gọt thủy tiên chắc cũng gốc Tàu. Không phải gốc thì hơn. Ai sành thử so sánh nghệ thuật Việt với nghệ thuật Tàu cho bà con nghe chơi. Hương “thanh quý” khác hương “thanh cao” thế nào, ai biết xin phát biểu luôn... Đào với mai, này, có phải đây như là chính khí hậu Bắc Nam hiện ra thành hoa cho ta chơi Tết? Mai rõ ràng là nắng xuân đọng, còn đào là cái gì xuân đọng nhỉ?...

Người Hà Nội ăn Tết
“Cái gì quý nhất, ngon nhất người ta để dành ăn Tết. Nhà giàu mâm cỗ tám đĩa tám bát, chồng đôi chồng ba đã đành, người nghèo cũng có “mâm cơm cúng cụ” (…) Hàng tháng trước Tết, người Hà Nội đã tích lũy (…) măng, nấm hương, miến mọc, tôm he, bóng bì v.v. (…) Các nguyên liệu làm mứt được phơi khô (...) Ban thờ được trang trí rất công phun (…) hoành phi, câu đối, chân chỉ hạt bột (…) tam sự, ngũ sự bằng đồng (…) ngai thờ, tranh chân dung, bình hoa (…) Nhà có ông bà cao tuổi (…) sắm (…) quần áo đỏ, khăn đỏ (…) trẻ nhỏ (…) bộ đồ xúng xính, còn sột soạt nước hồ (…) Thiếu nữ (sắm) xiêm y, giày dép, son phấn, đồ trang sức (...) Đêm giao thừa (…) có tục lệ đi chơi xuân hái lộc (...) Nhiều người quanh năm không biết cờ bạc là gì, nhưng Tết đến cũng có cỗ bài tam cúc để cả nhà cùng chơi (…) Hà Nội trước có lệ bói tuồng đầu năm. Chiều mùng một, các rạp hát mở cửa, không đề tên vở diễn. Khách vào xem mới biết là vở gì, có người còn vào rạp lúc giữa vở, như kiểu bói Kiều (…) Nhà rạp khôn khéo, bao giờ cũng chỉ diễn những vở tươi vui, đầm ấm, hạnh phúc, đoàn viên”.(7) Chuẩn bị kỹ thế, trách nào Tết... vui như Tết. Nhưng đó là Hà Nội ngày xưa, chứ Hà Nội bây giờ thì xuê xoa, quấy quá Tết đi nhiều lắm. Người người ngày ngày giờ giờ phút phút đua nhau “kéo” như quân đèn cù để cải thiện đời sống vật chất hơn nữa và hơn nữa, nên mọi sự chuẩn bị Tết đều nhường cả cho các nơi chuyên môn, chỉ việc chạy đi mua... Thế kỷ 21 không còn bói tuồng thì có thể bói truyền hình, bói Mạng. Nhưng coi chừng, rất dễ gặp cái xúi quẩy.

Làm chè lam
“Sáng ngày mồng hai Tết (…) các cô tôi, mẹ tôi dậy từ tờ mờ đất (…) rang gạo nếp cái thành bỏng (…) rây bột (…) rang vừng (...) Tôi cũng dậy xem (...) Chao ôi, mùi vừng rang, gạo nếp rang cứ bay quanh sực nức khắp nhà (...) Nồi nước đường cô tôi đun, thỉnh thoảng bà lại dùng đầu đũa lấy một giọt, nhỏ vào bát nước lã nguội. Lần cuối cùng giọt đường trong bát nước tròn xoe như viên bi nhỏ (…) Cô tôi đổ bột gạo nếp xay vào nồi (...) tiếp tục đun (…) đảo (…) Lát sau (…) đổ ra mấy cái mâm đồng đã rắc lót vừng (và) bột nhỏ mịn (…) dàn mỏng, rắc bột rắc vừng lên trên, rồi lấy chai, lấy con lăn bằng gỗ cán cho mỏng đều và kết vào nhau thành một bánh (…) (Khi) chè nguội, lấy thước (…) dao cắt thành từng thỏi hình chữ nhật, to hơn con tam cúc (…) đem tẩm bột làm áo”.(8) Ngày mồng hai Tết mà phải “dậy từ tờ mờ đất” để làm việc! Việc khác thì mất Tết như chơi, nhưng việc này không sao cả, nhất là đối với “tôi”, là người phụ trách những công tác “ngồi xem”, “nuốt nước bọt”, “ăn trước Thành Hoàng” nắm bỏng, “cắn thử” viên bi đường, và hẳn rút cuộc là nhai thử thỏi chè lam đầu tiên... Thứ quà ngọt ấy có cái tên lạ. “Chè”, có thứ đựng trong chén mà uống, lại có thứ để trên đĩa mà cầm lên ăn. Vừa uống chè vừa ăn “chè”, Tết thật!

Tết Huế
“Độ cuối tháng 11 âm lịch trở đi... / Mưa lạnh còn kéo dài nhưng những ngày nắng ấm bất chợt đã xuất hiện... / Vào những ngày nắng hiếm hoi đó, mùi Tết bắt đầu phảng phất... / Càng cận Tết mưa nhỏ hạt dần, khí trời khô hơn... / Chuẩn bị Tết sớm nhất có lẽ là những người trồng cây cảnh... / Người Huế ưa chưng mai vàng... / Khoảng hai mươi, hăm ba tháng Chạp, chợ hoa mở... / Hội chợ cũng mở: bầu cua cá ngựa, lô-tô, bài chòi… / Tết hầu như nhà nào cũng nấu bánh tét... / Trời Huế cuối tháng chạp vẫn còn lạnh lắm... / Ngồi canh nồi bánh tét là một cái thú, vừa ấm vừa vui.... / Dĩ nhiên ngoài bánh tét còn nhiều loại bánh mứt khác... / Khoảng 20 ngày trước Tết đã nghe râm ran tiếng pháo… / Hồi hộp nhất, thiêng liêng nhất, là tiếng pháo giao thừa... / Tiếng pháo, tiếng chuông chùa, mùi trầm hương quyện vào nhau khiến cái giây phút chuyển giao cũ - mới của Đất Trời in sâu vào ký ức... / Người Huế không xuất hành đi hái lộc vào đêm giao thừa... / Sau thời khắc năm cũ - mới, gia đình quây quần bên nhau… / Bánh mứt, xôi chè, nước trà dọn ra, mọi người cùng lên kế hoạch sáng mùng một Tết... / Phố xá sáng Mùng Một Tết... / Trên đường đầy xác pháo màu hồng, chỉ lác đác bóng người... / Đây là ngày người Huế đi thăm bà con và viếng mồ mả... / Ngày Mùng Hai thường dành để thăm viếng bạn bè... / Mùng Ba Tết thăm đồng nghiệp, hàng xóm v.v. / Trẻ con rất ghét Mùng Ba... / Vì mỗi giờ phút qua đi là không khí Tết như loãng dần... / Nhưng Mùng Ba vẫn có cái để chờ đợi, là ăn Cúng Đưa ông bà... / Hết ngày Mùng Ba coi như hết Tết...”.(9) Đây nguyên là văn xuôi, chúng tôi chọn một số câu, ráp lại, trình bày như một bài thơ tự do. Ở vài chỗ, lời có sửa chút đỉnh, nhưng thứ tự các câu thì không thay đổi.

Nhớ hương bánh thuẫn
“Nhớ (…) mỗi lần mẹ chuẩn bị làm bánh thuẫn ăn Tết, cả nhà lại háo hức (…) Ba đã hì hụi vót một thanh tre, một đầu chẻ làm tư. Ba cầm (…) bằng hai tay, cho đầu bị chẻ vào chậu bột đã trộn rồi lăn mạnh (…) Đánh bột rất vất vả, có khi mất vài tiếng đồng hồ (…) Bánh chỉ nướng trên than đỏ vừa, nên mẹ cứ lấy cơi khều cho những hòn than cháy bớt. Chị em tôi luôn ngồi chực sẵn để giành nhau chạy đon đả mỗi khi mẹ sai (…) Mẹ lấy một cọng chuối đập dập rồi nhúng vào bát dầu và tra dầu vào khuôn bánh (…) đổ bột vào khuôn (…) đậy vung rồi gắp than bỏ lên trên (…) Chỉ trong phút chốc, bột dậy lên, mùi thơm tỏa ra cả chái bếp. Chiếc bánh nở bung tựa như một bông mai vàng đẹp đẽ (…) Bánh được đặt trang trọng lên bàn thờ (…) trong mâm bánh mứt mời khách”.(10) Bánh thuẫn trông khá giống bánh ngọt Tây phương, nhưng hương vị rất khác. Vì làm bằng bột củ hoàng tinh hoặc bột củ mì chứ không phải bằng bột lúa mì. Và vì bánh thuẫn làm với trứng mà thôi chứ không hề có bơ. Cái kết hợp bột củ với trứng thuần túy nó có nét đậm đà riêng không chịu nhường bất cứ thứ bánh nào đâu. “Mẹ làm bánh xong (…) cảm giác Tết đã về chạm ngõ (...) Dần dà (…) bánh thuẫn chẳng còn thấy ở quê tôi nữa (…) (Nó đã) ở lại cùng bao kỷ niệm của những mùa Tết xưa”. Chợt nhớ pháo. Pháo từng nổ ran khắp nước suốt bao nhiêu thế hệ, thế mà cũng đã “ở lại” rồi.

Tết miệt vườn
“Khoảng giữa tháng Chạp dứt lá cho mai, gốc mai cành nhánh trơ trụi... / Gió se se ngọn dừa, nắng tươi như mật loãng... / Tiếng trống lân sập sận... / Tết đã áp sát một bên... / Những chiếu bánh phồng san sát... / Bánh thuẫn nướng trong nồi cát… / Bánh tét treo thành sào cạnh bồ lúa... / Mứt dừa, đủ thứ bánh mứt khác, nội trợ thi đua... / Người chở trái cây ra chợ bán… / Người ra sông giặt giũ, tiếng đập chiếu trên mặt nước sông âm âm… / Thời gian chạy bứt lên, lao muốn đứt hơi theo nó... / Vết thâm quầng đáng yêu trên mi mắt các bà các cô... / Cuối cùng việc nhà cũng hết… / Trong mệt mỏi ngọt ngào, phụ nữ mang đèn dầu ra bờ sông tắm, về căn nhà như mới, mền gối sạch sẽ, trẻ con thơm tho… / Có cái gì đang dừng lại trong mỗi con người, bịn rịn ngậm ngùi, rưng rưng… / Đêm đen sóng sánh, cây vườn trầm mặc... / Bỗng bước chân thời gian như đang sầm sập qua… / Bánh phồng nướng lên bàn thờ… / Giao thừa!... / Các cụ bà ra sân bái lạy bốn phương… / Trẻ con bật dậy, chơi pháo chuột… / Mồng Một... / Trẻ con lăng xăng với quần áo mới... / Thanh niên diện bảnh chộn rộn đường quê... / Người đứng tuổi “dô” để ra những câu chúc nhau cháy đượm... / Mồng Hai... / Múa lân, cả xóm được một ngày cười... / Lân, địa được tới tấp mời “dô” để bước tròng trành hơn... / Mồng Ba... / Cúng tân niên bằng gà giò, cúng xong coi giò, treo giò lên khoe... / Học trò xôn xao đi mừng tuổi thầy cô... / Hết Tết... / Xóm ấp rã rượi ngọt ngào như cô dâu sau tuần trăng mật”.(11) Đây cũng như bài “Tết Huế”, là văn xuôi được “rút sửa” cho thành thơ tự do. Cái sửa lần này phóng túng hơn: số câu không còn đúng nguyên văn nhiều hơn và thứ tự các câu cũng bị xáo trộn.


Tháng 11-2020






_________
(1) Thơ Đoàn Văn Cừ. (2) Vũ Bằng,
Thương nhớ mười hai. (3) Tô Hoài, Chuyện cũ Hà Nội. (4) Nguyễn Đình Lạp, Ngoại ô. (5) Vũ Ngọc Phan, Những năm tháng ấy. (6) Hồi ký Nguyễn Hiến Lê. (7) Băng Sơn, “Tết Hà Nội xưa”. (8) Thanh Hào, Sông Hồng và làng bãi. (9) Phượng Vỹ, “Lan man tết Huế”, trang phuongvy.com. (10) Diệu Ái, “Tết về, nhớ hương bánh thuẫn”, trang dantri.com.vn. (11) Dạ Ngân, “Tết miệt vườn”, trang chimviet.free.fr.