Phan Huy Lê



Phan Huy Lê trình bày thật rõ ràng quá trình lập thuyết về nguồn gốc Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc. Ðọc xong bài viết công phu, thấy muốn góp chút suy nghĩ riêng:

- Về nguồn gốc Thục Phán, ông Phan cho biết “xu hướng chung của các nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây, đều bác bỏ thuyết cổ truyền về gốc tích Ba Thục của Thục Phán. Thuyết này không những chứa đựng những điều phi lý, khó giải thích về khoảng cách không gian và thời gian giữa nước Thục ở Tứ Xuyên với nước Âu Lạc ở bắc Việt Nam (...) mà còn trái ngược với nhiều nguồn tư liệu trong nước”.

Thiết tưởng thuyết cổ truyền sau khi được Ðào Duy Anh cải tiến lần chót đâu còn chứa điều gì bất ổn. Ðường từ Tứ Xuyên đến Quảng Tây không phải là không đi được, hơn nữa truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” của người Tày hình như không chứa chi tiết nào có giá trị phủ nhận chuyện dòng họ Thục có thể đã đến từ Ba Thục.

Nói như trên không phải là bảo thuyết ÐDA nhất định đúng. Chỉ là nói rằng thuyết ÐDA cũng có thể đúng, như một số thuyết khác. Sau bao nhiêu lượt nghiên cứu, đến nay ta chỉ có thể chắc chắn rằng Thục Phán là một thủ lĩnh Tây Âu (điều khá hiển nhiên!), mà không thể kết luận ông là người địa phương hay dân ngụ cư...

- Về sự thành lập nước Âu Lạc, thuyết hiện đại thật đẹp đẽ. Nhưng thiết tưởng ta vẫn nên dè dặt.

Thuyết cho rằng Thục Phán trở thành An Dương Vương là nhờ đã lãnh đạo kháng chiến chống Tần thành công. Giặc Tần là giặc cực lớn, đánh được giặc Tần là chiến công hết sức vẻ vang. Thế mà hình như không có lấy được một truyền thuyết về kỳ tích này!

Tại sao những chiến công nhỏ hơn thời Hùng Vương, chẳng hạn đánh giặc Ân (không ai biết là giặc nào), thì còn được truyền tụng mà chiến công đại phá quân Tần của Thục Phán lại không?

Chẳng những người Việt “quên”, cả người Tày cũng quên: họ chỉ nhớ chuyện “cẩu chủa cheng vùa” chứ không nhớ chuyện “vùa” Thục Phán có đánh Tần.

Xoay quanh đời Thục Phán có khá nhiều truyền thuyết. Nếu Thục Phán quả đã giết được Ðồ Thư và mấy chục vạn quân Tần, đó chắc chắn là cao điểm của sự nghiệp. Tại sao về sau chỉ còn lại truyền thuyết về những biến cố ít quan trọng hơn và về thất bại tối hậu, mà không chút dư âm nào của thành công tột đỉnh?

Nên nhớ văn hóa Việt Nam có truyền thống ghi ơn sâu sắc những anh hùng dân tộc. Nếu Thục Phán quả đã đại anh hùng như thế, lẽ nào dân tộc lại quên ghi...

(Thu Tứ)



Thục Phán và Âu Lạc



Theo các nguồn tư liệu thư tịch cổ của ta và của Trung Quốc phù hợp với những truyền thuyết dân gian phổ biến, thì tiếp theo sau nước Văn Lang đời Hùng Vương là nước Âu Lạc đời An Dương Vương.

(...)

Tuy nhiên, xung quanh lịch sử nước Âu Lạc (...) cho đến nay, vẫn tồn tại nhiều vấn đề chưa được giải quyết triệt để, trước hết là vấn đề nguồn gốc Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc.

Những tài liệu xưa nhất trong thư tịch cổ của Trung Quốc (...) đều chép, An Dương Vương là “con vua Thục” (Thục Vương tử), nhưng không cho biết rõ xuất xứ của vua Thục, vị trí của nước Thục và cả tên của An Dương Vương.

Bộ sử xưa nhất của ta là Việt sử lược chỉ chép một câu về nguồn gốc của An Dương Vương: “Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay.” (...) Tác giả bộ sử này cho biết (...) An Dương Vương tên là Phán, nhưng cũng không nói rõ người ở đâu.

Từ thế kỷ XV, với Ðại Việt sử ký toàn thưLĩnh Nam chích quái thì An Dương Vương xuất hiện một cách rõ ràng trong sử sách: “họ Thục, tên Phán, người đất Ba Thục” (...) niên điểm thành lập nước Âu Lạc được xác định là năm Giáp Thìn, Chu Noãn Vương, thứ 58 (năm 257 tr. CN) (...) đến thế kỷ XIX, thuyết đó (...) bắt đầu bị hoài nghi hoặc phủ định.

Theo sử sách Trung Quốc thì nước Thục ở vùng Tứ Xuyên là một trong những nước thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Nước đó đã bị nước Tần tiêu diệt vào (...) năm 316 tr. CN (...) Vua Thục cuối cùng là Thục Khai Minh bị quân Tần giết chết ở Vũ Dương và thái tử con vua Thục cũng bị chết ở Bạch Lộc Sơn (...) Thế mà nước Âu Lạc, theo chính sử của ta, mãi đến năm 257 tr. CN mới thành lập. Vậy sau khi nước Thục bị diệt, “con vua Thục” tồn tại ở đâu và làm sao vượt qua hàng ngàn dặm núi rừng, đi qua địa bàn của nhiều nước (...) để (...) tiến đánh nước Văn Lang của Hùng Vương? (...)

Nguyễn Văn Siêu (1795 - 1872) (...) coi những ghi chép của sử cũ về An Dương Vương là sai lầm.(1)

Các tác giả bộ Việt sử thông giám cương mục (...) dè dặt nêu lên một giả thuyết mới đáng lưu ý: “hoặc giả ngoài cõi tây bắc giáp với nước Văn Lang, còn có họ Thục khác mà sử cũ nhận là Thục Vương chăng?”(2)

Dưới thời Pháp thuộc, xu hướng hoài nghi hoặc phủ định càng có chiều phát triển. Việt Nam sử lược (Trần Trọng Kim) dựa vào Việt sử thông giám cương mục, cho rằng An Dương Vương Thục Phán “không phải là nhà Thục bên Tàu”. Ngô Tất Tố phân tích sâu hơn các luận cứ, khẳng định “Nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục” (...)

Vào những năm 50, thuyết cổ truyền về nguồn gốc Ba Thục của An Dương Vương (...) được nhiều nhà sử học bảo vệ, nhưng với những cách giải thích mới.

Có người cho (...)

Có người quan niệm, Thục Phán có thể là con hay cháu xa của vua Thục ở Ba Thục, sau khi đất nước bị diệt đã cùng với tộc thuộc chạy xuống vùng Ðiền Trì, rồi theo sông Hồng vào đất Lạc Việt, chiếm vùng Tây Vu ở phía tây bắc trung du Bắc bộ ngày nay. Sau khi lãnh đạo người Lạc Việt và Tây Âu kháng chiến chống quân Tần thắng lợi, Thục Phán gồm chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương lập ra nước Âu Lạc vào khoảng năm 208 tr. CN.(3)

Cũng có người, căn cứ vào tình hình phân bố cư dân vùng Tây Nam Di, phỏng đoán rằng Thục Vương trong các thư tịch cổ không phải vua nước Thục ở Ba Thục, mà là tù trưởng của bộ lạc Khương di cư từ đất Thục xuống phía nam và tự xưng là Thục Vương. Bộ lạc Thục đó đi xuống vùng Quảng Tây và đông bắc Bắc bộ, cộng cư và đồng hóa với người Tây Âu ở vùng này. Nước Âu Lạc bao gồm hai thành phần cư dân: Lạc Việt và Tây Âu.(4)

Năm 1963, một tư liệu mới về An Dương Vương Thục Phán được công bố. Ðó là truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa” (chín chúa tranh vua) của đồng bào Tày ở Cao Bằng. Theo truyền thuyết này thì Thục Phán là con của Thục Chế “vua” của “nước” Nam Cương ở vùng Cao Bằng, Quảng Tây hiện nay mà trung tâm là Hòa An (Cao Bằng). Nam Cương gồm chín xứ Mường. Vào cuối đời Hùng Vương, Thục Chế mất, con là Thục Phán hãy còn ít tuổi. Chín chúa Mường kéo quân về bắt Thục Phán chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi “vua”. Thục Phán tuy ít tuổi nhưng rất thông minh, đã bày ra những cuộc đua sức, đua tài và giao hẹn ai thắng cuộc sẽ được nhường ngôi. Thục Phán dùng mưu kế làm cho các chúa mất nhiều công sức, mà không ai thắng cuộc. Cuối cùng, các chúa phải qui phục Thục Phán. Sau đó, “nước” Nam Cương trở nên cường thịnh. Thục Phán, nhân lúc nước Văn Lang suy yếu, đã đánh chiếm lập ra nước Âu Lạc, tự xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa.(5)

Trên cơ sở truyền thuyết “Cẩu chủa cheng vùa”, xuất hiện một giả thuyết mới, cho rằng Thục Phán là tù trưởng một liên minh bộ lạc người Tây Âu hay người Tày cổ ở vùng núi rừng phía bắc Bắc bộ và nam Quảng Tây.(6)

Cuối những năm 60 lại xuất hiện thêm hai giả thuyết mới về nguồn gốc của Thục Phán.

(...)

Tất cả những giả thuyết trên đây chứng tỏ rằng nguồn gốc của Thục Phán và sự ra đời của nước Âu Lạc còn nhiều khía cạnh bí ẩn (...) Nhưng xu hướng chung của các nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây, đều bác bỏ thuyết cổ truyền về gốc tích Ba Thục của Thục Phán. Thuyết này không những chứa đựng những điều phi lý, khó giải thích về khoảng cách không gian và thời gian giữa nước Thục ở Tứ Xuyên với nước Âu Lạc ở bắc Việt Nam (...) mà còn trái ngược với nhiều nguồn tư liệu trong nước.

(...)

Tổng hợp những kết quả nghiên cứu cho đến nay, có thể tạm xác lập một giả thuyết như sau:

Cư dân nước Văn Lang đời Hùng Vương chủ yếu là người Lạc Việt và bao gồm cả một bộ phận người Tây Âu (hay còn gọi là Âu Việt) ở miền núi rừng và trung du phía bắc, hai thành phần đó sống xen kẽ với nhau trong nhiều vùng. Phía bắc nước Văn Lang là địa bàn cư trú của người Tây Âu, cũng có những nhóm Lạc Việt sống xen kẽ (...)

Lạc Việt và Tây Âu là hai nhóm phía nam của Bách Việt, sống gần gụi nhau và có vùng xen kẽ nhau, trên lưu vực sông Hồng và Tây Giang. Vừa là đồng chủng, vừa là láng giềng, từ lâu người Lạc Việt và người Tây Âu đã có nhiều quan hệ mật thiết về kinh tế, văn hóa (...)

Thục Phán là thủ lĩnh của một liên minh bộ lạc người Tây Âu ở phía bắc nước Văn Lang, theo truyền thuyết của đồng bào Tày thì liên minh bộ lạc đó là “nước” Nam Cương gồm 10 xứ Mường (9 mường của 9 chúa và 1 mường trung tâm của Thục Phán) tức 10 bộ lạc họp thành, với địa bàn cư trú gồm vùng nam Quảng Tây, Cao Bằng và có thể rộng hơn, cả vùng núi rừng phía bắc Bắc bộ, mà trung tâm là Cao Bằng (...)

Giữa người Lạc Việt và Tây Âu, cũng như giữa Hùng và Thục, đã có nhiều quan hệ gắn bó lâu đời. Huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ đã chứa đựng mối quan hệ giữa hai yếu tố Lạc và Âu trong cội nguồn xa xưa của các thành phần dân tộc ở Việt Nam. Nhiều thần tích và truyền thuyết về Hùng Vương và An Dương Vương coi Thục Phán là thuộc “dòng dõi”, “tông phái”, hoặc là “cháu ngoại” của vua Hùng (...)

Nhưng mặt khác, vào cuối đời Hùng Vương, giữa Hùng và Thục xẩy ra một cuộc xung đột kéo dài (...) Ðó là những cuộc xung đột không tránh khỏi trong quá trình tập hợp các bộ lạc và liên minh bộ lạc gần gụi nhau để lập thành Nhà nước và mở rộng phạm vi kiểm soát của Nhà nước đó.

Cuộc xung đột đang tiếp diễn thì (...) người Lạc Việt và Tây Âu, cùng toàn bộ các nhóm người Việt trong khối Bách Việt đứng trước một mối đe dọa cực kỳ nguy hiểm. Ðấy là nạn xâm lược đại qui mô của đế chế Tần. Chính hoàn cảnh lịch sử ấy cắt nghĩa tại sao cuộc xung đột Hùng - Thục lại kết thúc bằng sự nhường ngôi của Hùng Vương cho Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc như một bước phát triển kế tục của nước Văn Lang, một sự hợp nhất ở mức độ cao hơn, phạm vi rộng hơn, của người Lạc Việt và người Tây Âu.

(...) (trang 179 đến trang 197 nói về “Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần”)

Trước cuộc kháng chiến chống Tần, liên minh bộ lạc Tây Âu của Thục Phán đã có nhiều mối quan hệ chặt chẽ với nước Văn Lang của Hùng Vương. Mối quan hệ vừa giao lưu, liên kết, vừa đấu tranh, xung đột giữa hai tộc người gần gụi về dòng máu, về địa vực, về kinh tế, văn hóa như vậy là cơ sở và cũng là bước chuẩn bị cho sự hợp nhất hai tộc người Lạc Việt - Tây Âu để mở rộng và phát triển nước Văn Lang. Cuộc kháng chiến chống Tần càng thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa xu thế phát triển đó.

Khi tiến vào nước ta, quân Tần xâm phạm trước hết địa bàn cư trú của người Tây Âu. Thục Phán với vai trò thủ lĩnh liên minh bộ lạc Tây Âu, dĩ nhiên phải đứng ra tổ chức và chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Tần. Quân Tần càng tiến sâu về phía nam, càng gặp phải sức chống trả quyết liệt của người Tây Âu và người Lạc Việt. Các thủ lĩnh người Việt, do yêu cầu của cuộc chiến đấu, đã suy tôn Thục Phán lên làm người chỉ huy cao nhất. Có lẽ đó là ý nghĩa của việc “họ cùng nhau đặt người kiệt tuấn lên làm tướng” mà Lưu An đã chép trong Hoài Nam Tử.

(...)

(...) việc Thục Phán thay thế Hùng Vương, tự xưng An Dương Vương và lập ra nước Âu Lạc thì có lẽ được thực hiện sau khi kháng chiến thành công (...)

(...) Sự thành lập nước Âu Lạc không phải là kết quả của một cuộc chiến tranh thôn tính, tiêu diệt, mà là một sự hợp nhất cư dân và đất đai của Lạc Việt và Tây Âu, của Hùng và Thục. Vì vậy, nước Âu Lạc là một bước phát triển mới, kế tục và cao hơn nước Văn Lang (...)

Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, khoảng gần 30 năm (khoảng 208 - 179 tr. CN). Do đó, thời gian tồn tại của nước Âu Lạc không tách ra thành một thời kỳ lịch sử riêng, mà được coi như một giai đoạn phát triển tiếp tục của nước Văn Lang (...) nằm trong một thời đại chung: thời đại dựng nước đời Hùng Vương và An Dương Vương.


(Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh,
Lịch sử Việt Nam, tập I, nxb. Ðại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1983, tr. 169-199)





_________________
Nhan đề do người trích tạm đặt.
Chú thích của sách:
(1) Nguyễn Văn Siêu,
Phương Ðình dư địa chí.
(2)
Việt sử thông giám cương mục, Tiền biên, q. I. 8b.
(3) Ðào Duy Anh, “Vấn đề An Dương Vương và nước Âu Lạc”, Hà Nội 1957 (...) Sau khi phát hiện ra truyền thuyết về nước Nam Cương của người Tày ở Cao Bằng, Ðào Duy Anh có sửa đổi giả thuyết cũ, cho rằng con cháu vua Thục từ Tứ Xuyên xuống Quí Châu, Vân Nam rồi vào nước Nam Cương và Thục Phán trở thành tù trưởng của liên minh bộ lạc người Tây Âu ở đó. Xem: Ðào Duy Anh,
Ðất nước Việt Nam qua các đời, Hà Nội, 1964, và “Góp ý kiến về vấn đề An Dương Vương”, Khảo cổ học 3-4, tháng 12-1969.
(4) Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn,
Lịch sử chế độ cộng sản nguyên thủy ở Việt Nam, nxb. Giáo Dục, Hà Nội 1960, tr. 51-56.
(5) Lã Văn Lò, “Quanh vấn đề An Dương Vương Thục Phán hay là truyền thuyết Cẩu chủa cheng vùa của đồng bào Tày”,
Nghiên cứu lịch sử 50-51, tháng 6-1963. Ðây là một truyền thuyết dân gian ở vùng Cao Bằng, được Lê Sơn viết thành trường ca hơn nghìn câu tiếng Tày. Lã Văn Lò dịch ra tiếng Việt và công bố. Trước đây, khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số tác giả người Pháp khi viết lịch sử người Tày có nhắc đến thuyết này, nhưng không công bố tư liệu.
(6) Ðặng Nghiêm Vạn và Trần Quốc Vượng, “Vấn đề An Dương Vương và lịch sử dân tộc Tày ở Việt Nam”,
Thông báo khoa học - sử học, trường Ðại học Tổng hợp Hà Nội, t. II, 1966 (...)
Ðào Duy Anh,
Ðất nước Việt Nam qua các đời, sđd.
Chú thích của người trích:
(*) Mường đây là tiếng Thái có nghĩa là một khu vực, chứ không có liên hệ gì với người Mường. Nói “Nam Cương gồm chín xứ Mường” dễ gây ngộ nhận. Thiết tưởng nên nói “Nam Cương gồm chín mường” rồi cước chú nghĩa của chữ “mường”.